14 thg 5, 2015

- Thứ Năm, tháng 5 14, 2015 -    No comments

Đời sống kinh tế dư giả khiến một lượng lớn người dân Trung Quốc đi du lịch ra nước ngoài. Song, lối cư xử bị coi là thiếu văn hóa và đầy bạo lực của du khách Trung Quốc lại đang bị nhiều nước lên án.

Vì sao dân Trung Quốc bị cả thế giới xua đuổi?
Tân Hoa Xã dẫn số liệu từ Tổng cục Du lịch Trung Quốc (CNTA) cho biết tính đến tháng 11/2014, khoảng 100 triệu du khách Trung Quốc đã đi ra nước ngoài trong năm. Trong đó, khoảng 85,4 triệu du khách Trung Quốc đến các nước châu Á, phần còn lại đi du lịch tới châu Âu và châu Phi.
Còn theo khảo sát của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), du khách Trung Quốc đã vượt qua người dân Mỹ và Đức trở thành những người mạnh tay chi tiền nhất thế giới vào năm 2013. Theo đó, du khách Trung Quốc đã chi 128,6 tỷ USD; Mỹ là 104,7 tỷ USD và Đức là 91,4 tỷ USD. Trong năm 2014, du khách Trung Quốc tiếp tục là đối tượng chi đậm nhất.

Tuy nhiên, tờ Bưu điện Hoa Nam buổi sáng nhận định: “Du khách Trung Quốc là những người có tiền nhưng lại thiếu văn minh”. Bởi trong thời gian gần đây, truyền thông Trung Quốc và quốc tế đã liên tục cho đăng tải những thông tin về việc du khách Trung Quốc ứng xử vô văn hóa, đã lưu lại ấn tượng rất xấu trong mắt cộng đồng quốc tế. Điển hình, nhiều vụ việc "xấu xí" liên quan tới lối hành xử của du khách Trung Quốc ở nước ngoài đã bị phanh phui.

Hong Kong cấm cửa du khách Trung Quốc

Ở Hong Kong, làn sóng phản đối du khách Trung Quốc tăng cao đột biến sau vụ việc một cặp vợ chồng người Trung Quốc cho cậu con trai 2 tuổi “phóng uế” ngay trên đường phố Hong Kong.

Mới đây, Channel New Asia đưa tin, người dân Hong Kong còn tham gia vào các cuộc biểu tình phản đối du khách Trung Quốc đổ xô tới đặc khu mua sắm, ve vớt khiến giá cả nhiều mặt hàng tăng chóng mặt, gây ảnh hưởng tới cuộc sống thường ngày.

Thậm chí, tại quận Yuen Long, cảnh sát Hong Kong đã buộc phải tiến hành bắt giữ 38 người và dùng hơi cay để giải tán đám đông tụ trước cửa một trung tâm mua sắm phản đối du khách Trung Quốc.

Các mặt hàng như sữa bột trẻ em, mỹ phẩm, dược phẩm và hàng hóa cao cấp là những sản phẩm yêu thích và được nhiều người Trung Quốc tìm mua nhiều nhất khi đặt chân tới Hong Kong.

Hàn Quốc lo dân Trung Quốc "xâm lăng"

Bắc Kinh hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Seoul, do đó, không ít người dân Hàn Quốc lo sợ trong tương lai, Trung Quốc sẽ có tiếng nói trong mọi chính sách của nước này. Bởi trong số 6,1 triệu du khách Trung Quốc đến thăm Hàn Quốc vào năm ngoái, gần một nửa trong số đó tới đảo Jeju, tăng gấp 5 lần so với năm 2011.

Ở đảo Jeju, những người bán đất cho dân Trung Quốc còn bị gọi là "kẻ phản bội đất nước". Thậm chí, nhiều khách sạn đã phải đặt biển thông báo ở bên ngoài rằng họ không liên quan gì đến Trung Quốc.

Động thái quyết liệt của Trung Quốc nhằm kiểm soát những vùng biển gần đảo Jeju cũng khiến nhiều người Hàn Quốc lo ngại. Một số người còn cho rằng Bắc Kinh sẽ chia rẽ Seoul và Washington, một đối tác an ninh quan trọng nhất của Hàn Quốc.

Bên cạnh những cáo buộc liên quan tới việc các nhà đầu tư bất động sản Trung Quốc “xâm lấn” đất Hàn Quốc, giới truyền thông Hàn Quốc còn nhận định rằng, hầu hết du khách Trung Quốc không chỉ coi thường và vi phạm một số tập tục xã hội của Hàn Quốc mà còn thường chỉ lưu trú, ăn và đi mua sắm trong khách sạn, nhà hàng và trung tâm mua sắm do người Trung Quốc làm chủ.

Trong một cuộc khảo sát 1.000 người dân đảo năm 2014, 68% cho biết số lượng du khách Trung Quốc ngày càng tăng không hề đóng góp gì cho sự phát triển của đảo Jeju.

Kim Hong-gu, một doanh nhân Jeju, phàn nàn về việc người Trung Quốc tranh cãi và hút thuốc trên đường phố. Ông Kim cho rằng Trung Quốc đang dùng tiền của mình để biến Jeju thành một “khu phố của người Tàu”.

Hành xử thiếu văn minh tại Thái Lan

Hôm 5/2, Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đưa tin, cư dân mạng nước này lan truyền thông tin Chùa Trắng (Wat Rong Khun) ở Thái Lan đã từ chối tiếp đón du khách Trung Quốc.

Đại diện Chùa Trắng đã trả lời truyền thông cho biết, sáng 3/2, chùa này đã cấm du khách Trung Quốc vào bên trong, nguyên nhân do một số khách Trung Quốc có hành vi không văn minh khi sử dụng nhà vệ sinh. Như việc một số người Trung Quốc đã đi đại tiện vào bồn tiểu tiện, sử dụng lãng phí giấy vệ sinh và vứt băng vệ sinh trên sàn.

Theo Nhân dân Nhật báo, trụ trì Chùa Trắng đã rất tức giận đối với những hành vi trên và cấm khách Trung Quốc vào chùa.

Tuy nhiên, cũng trong ngày 3/2, chùa này đã mở cửa đón khách Trung Quốc trở lại, nhưng yêu cầu hướng dẫn viên phải tháp tùng khách của mình khi họ vào nhà vệ sinh. Nhà chùa cũng cảnh cáo, nếu những người Trung Quốc còn tái diễn những hành vi thiếu văn minh thì chính hướng dẫn viên sẽ bị phạt lau dọn nhà vệ sinh.

Còn theo báo Direct Matin, những người phụ trách quản lý Chùa Trắng còn dự tính xây thêm nhà vệ sinh dành riêng cho du khách Trung Quốc.

Hôm 28/2, một người phụ trách của chùa than vãn về chuyện hành xử mất vệ sinh của du khách nói tiếng Trung: “Họ phóng uế cả trên sàn nhà vệ sinh, tiểu tiện ở tường bên ngoài nhà vệ sinh và dùng giấy vệ sinh xong thì vứt bừa bãi”.

Theo người này, mỗi khi có đoàn người Trung Quốc đến thăm chùa thì những du khách khác không thể dùng tiếp được nhà vệ sinh, do đó, nhà chùa dự tính xây nhà vệ sinh riêng biệt cho du khách Trung Quốc.

Dù là nguồn khách lớn ở Thái Lan với khoảng 4,62 triệu ghé thăm mỗi năm, nhưng du khách Trung Quốc đã gây người dân bản địa không ít lần phải than phiền.

Hồi cuối tháng Hai, theo Daily Mail, các trang mạng của Thái Lan đã lan truyền với tốc độ nhanh chóng mặt một đoạn video quay cảnh một công dân Trung Quốc dùng chân để đá vào dàn chuông thiêng ở chùa Wat Phra That Doi Suthep, gần Chiang Mai, rồi cười lớn trước khi quay đi.

Hành vi bất kính đó khiến người dân Thái vô cùng phẫn nộ và cảnh sát khẳng định họ sẽ truy lùng vị du khách này để trừng phạt.

Thậm chí, giới quản lý du lịch Thái Lan đã cho phát hành cuốn cẩm nang “Hướng dẫn ứng xử đúng mực” dành cho du khách Trung Quốc khi họ đến thăm đất nước này.

Trước đó, vào tháng 12/2014, báo chí quốc tế một lần nữa lên tiếng sau vụ việc một nhóm 4 hành khách Trung Quốc hắt bát mỳ nóng vào tiếp viên hàng không người Thái Lan chỉ vì không được ngồi cạnh nhau. Thậm chí, một người đàn ông trong nhóm còn lớn tiếng đe dọa sẽ đánh bom chuyến bay. Sau đó, CNTA đã đưa 4 người này vào “danh sách đen” bị cấm đi ra nước ngoài.

Người dân Nhật tránh gặp du khách Trung Quốc

Trang Phượng Hoàng đưa tin, hôm 10/2, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã kêu gọi người dân nước này "không nên cậy có tiền mà làm bừa, hay do không biết mà hành xử không có giới hạn". Song dường như lời kêu gọi này không đem lại hiệu quả, khi trong dịp Tết âm lịch vừa qua, những hành vi kém văn minh của du khách Trung Quốc vẫn tái diễn.

Điển hình, mới đây, một đài truyền hình Nhật Bản đã ghi lại hình ảnh một phụ nữ Trung Quốc cho con mình đi tiểu ngay trước trung tâm thương mại ở khu Ginza, Tokyo.

Điều đáng nói, khi bị phát hiện, người phụ nữ Trung Quốc còn ngay lập tức giơ chiếc túi ni-lon ra và cãi rằng cô đã cho con trai tiểu vào đó, chứ không "đi bậy" ra mặt đường. Người này cũng kiên quyết không thừa nhận hành vi của mình là thiếu văn hóa.

Ngay cả khi đi vào các trung tâm thương mại tại Nhật Bản, du khách Trung Quốc còn bị tố  không chịu tuân thủ quy định và thường xuyên bóc mở thực phẩm trong siêu thị trước khi trả tiền. Đỉnh điểm, nhiều người Nhật Bản còn không muốn tới những khu vui chơi "tràn ngập du khách Trung Quốc".

Cư dân mạng Trung Quốc đã phải lên tiếng hối thúc người dân nước mình khi đi du lịch cần "nhập gia tùy tục và không thể tiểu bậy trên khắp thế giới được".

Vẽ bậy lên khu di tích Ai Cập

Hồi năm 2013, cha mẹ của một thiếu niên 14 tuổi ở Trung Quốc đã phải lên tiếng xin lỗi khi con trai họ bị cư dân mạng lên án vì hành động vẽ bậy lên di tích tại một ngôi đền cổ đại 3.500 tuổi ở Luxor, Ai Cập.

Vụ việc này xuất hiện chỉ sau ít ngày Phó Thủ tướng Trung Quốc, ông Uông Dương cho rằng “hành vi thiếu văn minh” của một số du khách Trung Quốc đang làm tổn hại đến hình ảnh quốc gia.

Họ gây ồn ào ở nơi công cộng, khắc tên mình lên di tích lịch sử, vượt đèn đỏ và khạc nhổ ở mọi nơi. Những hành động ấy đang làm xấu đi hình ảnh của Trung Quốc và gây ra những hậu quả nghiêm trọng”, ông Uông Dương nhấn mạnh.

Tiếc tiền đi vệ sinh bậy ở châu Âu


Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng dẫn lời một hướng dẫn viên du lịch mang tên Linda Li kể về câu chuyện một đoàn xe chở khách du lịch Trung Quốc dừng chân tại trạm nghỉ trên đường cao tốc ở Frankfurt, Đức. Khi cô thông báo phí đi nhà vệ sinh công cộng là 0,5 nhân dân tệ, hầu hết du khách Trung Quốc đều phản đối dữ dội. Thậm chí, nhiều nam du khách đã tiểu tiện ngay ngoài trời hoặc chấp nhận nhịn đi vệ sinh.

Cô Li nói: “Tôi đã bị choáng. Nhiều người ăn mặc bảnh bao, giàu có cũng không chịu bỏ 0,5 nhân dân tệ để đi vệ sinh. Trong khi họ có thể chi hàng ngàn euro để mua một chiếc đồng hồ hàng hiệu Vacheon Constantin”.

Trong chuyến thăm tới Maldives hồi tháng 9/2014, nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình cũng đã kêu gọi người dân Trung Quốc hành xử đúng mực khi đi ra nước ngoài. “Đừng vứt chai nước khắp nơi. Đừng phá hoại san hô. Hãy ăn ít mì thôi và thưởng thức ẩm thực địa phương”, ông Tập nhấn mạnh.

Song, theo ý kiến của một số chuyên gia trong ngành du lịch Trung Quốc, việc CNTA phát hành cuốn cẩm nang hướng dẫn cách cư xử cho công dân nước mình khi ở nước ngoài hay lời kêu gọi của ông Tập sẽ hoàn toàn vô tác dụng. Bởi những người thiếu văn minh thì vẫn sẽ hành xử bậy bạ, còn người hiểu biết thì luôn đúng mực.

Tạp chí The Diplomat cho rằng trên thực tế, du khách của nhiều nước cũng ứng xử thiếu văn minh. Nhưng với việc chính quyền Trung Quốc bành trướng tuyên bố chủ quyền ở nhiều khu vực đặc biệt tại châu Á, đã khiến du khách nước này đi đâu cũng bị chú ý.

Tuy nhiên, hướng dẫn viên Li nhấn mạnh lối hành xử không đúng mực của du khách Trung Quốc xuất phát từ nguyên nhân ngành du lịch Trung Quốc mới chỉ chăm chăm kiếm tiền mà không hướng tới giáo dục cho người dân về ý thức bảo vệ môi trường như các nước phương Tây. Nói cách khác, du khách Trung Quốc cần phải học cách ứng xử tử tế, thân thiện với môi trường ngay từ khi ở nước nhà.

Bởi theo tờ Phượng Hoàng, ngay tại các ga tàu hỏa đông đúc ở thủ đô Bắc Kinh, những hành vi thiếu văn hóa của người dân vẫn thường xuyên xuất hiện. Khi mà, hình ảnh người lớn cho trẻ nhỏ đi tiểu ngay ra đường đã trở thành việc thường ngày đến mức các nhân viên vệ sinh không thèm nhắc nhở.

10 thg 2, 2015

- Thứ Ba, tháng 2 10, 2015 -    No comments
Người Trung Quốc rất nhẫn nại, họ đã từng nén nhịn trước sự cai trị hà khắc của nhiều triều đại phong kiến kiến và cũng rất giỏi chịu đựng trước những thảm cảnh của quốc gia, dân tộc, trước những giai đoạn chiến tranh hỗn loạn. Có thể nói tính nhẫn nại của người Trung Quốc quả là có một không hai.
Bàn về tính nhẫn nại của người Trung Quốc
Với phương ngôn sống: “tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu” (có nghĩa là: nếu không nhẫn nại ở điểm nhỏ thì sẽ làm hỏng việc lớn), người Trung Quốc đưa tính nhẫn nhục vào trong nhiều giáo lý cơ bản, ví dụ Nho giáo, để giáo dục con người. Trong nhiều giáo lý, người Trung Quốc coi những đau khổ là một phần tất yếu của tự nhiên, là ý trời và cho rằng nên nhẫn nhịn chịu đựng mà không cần có sự phản kháng.

Nếu so sánh khả năng nhẫn nại của Người Trung Quốc với các dân tộc khác, ví dụ người phương Tây, thì có thể thấy rằng khả năng nhẫn nại chịu đựng này của người Trung Quốc vượt hẳn người phương Tây. Trong một hoàn cảnh bị áp bức tương tự như nhau thì người Trung Quốc vẫn nhẫn nhịn, còn người phương Tây có thể sẽ không chịu ngồi yên mà sẽ đứng lên làm các cuộc cách mạng để thay đổi tình thể.

Phong tục sống chung trong một đại gia đình thì đây quả là môi trường tốt để người Trung Quốc tiếp tục rèn luyện đức tính nhẫn nại. Trong đại gia đình của Người Trung Quốc có đủ mối quan hệ: cha con, mẹ con, ông bà, chị dâu em chồng, mẹ chồng nàng dâu, chị em dâu, anh em bà con … và như vậy những sinh hoạt cá nhân, những tư tưởng cá nhân chắc chắn bị hạn hẹp, những mâu thuẫn gia đình luôn sẵn sàng bùng phát. Vì vậy, để sống yên ổn, con người không thể không nhẫn nhịn. Chế độ gia tộc còn tồn tại, các đại gia đình vẫn xuất hiện ở đâu đó thì mỗi con người chưa thể trở thành một cá thể độc lập mà con người còn buộc phải nhẫn nại để tồn tại.

Trong quan niệm chung người Trung Quốc vẫn coi nhẫn nại là một thứ đức hạnh tối cao và họ cho rằng sẽ sống tốt, yên ổn nhờ vào đức tính này. Nhẫn nại là một tiêu chí đánh giá khả năng của con người Trung Quốc.

Theo sự đánh giá của các nhà Trung Quốc học thì nhẫn nại là một tính cách rất quan trọng của người Trung Quốc. Tính nhẫn nại thể hiện tính cách của người Trung Quốc điển hình và có thể xem đây là biểu tượng của Văn hóa Trung Quốc trong ứng xử với môi trường xã hội.

Xem xét tính cách này ở 3 mặt: Chủ thể - Không gian và Thời gian.

1. Chủ thể:

Tính nhẫn nại được nảy sinh trong quá trình sống của một dân tộc. Hầu hết các dân tộc Trung Quốc (trước khi thống nhất đất nước) đều trải qua quá trình dài đi tìm một cuộc sống phù hợp, do phải cạnh tranh để sinh tồn, chen chúc để lấy chỗ ở …

Chính vì lý do này hầu hết các dân tộc Trung Quốc đều hình thành tính cách nhẫn nại đề sinh tồn.

2. Không gian:

Trong lịch sử hình thành Trung Quốc, các dân tộc mạnh mẽ ở phía Bắc tiến hành xâm chiếm xuống phía Nam để tìm các vùng đất mới màu mỡ, trù phú hơn.

Tuy nhiên, các vùng lãnh thổ phía Bắc lại chịu sự tấn công của người Mông Cổ, người Turk.

Chính vì vậy, tính nhẫn nại không chỉ thể hiện ở các dân tộc phía Nam và còn phổ biến ở cả các dân tộc phía Bắc.

3. Thời gian:

Tính nhẫn nại được hình thành qua suốt chiều dài lịch sử của Trung Quốc và vẫn được duy trì cho đến ngày nay (hiện nay, mặc dù đạt được những thành tựu vượt bậc trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc - nước đông dân nhất thế giới – vẫn được xếp vào nhóm nước đang phá triển và khoảng cách giàu nghèo vẫn chưa được thu hẹp đáng kể, đời sống phần đông dân nghèo vẫn rất khó khăn. Và người dân Trung Quốc vẫn duy trì đức tính nhẫn nại này trong cuộc sống mưu sinh hàng ngày).

Nhìn chung, người Trung Quốc rất lấy làm tự hào về đức tính nhẫn nại của mình, vì vậy họ cho rằng tính nhẫn nại là điều chẳng có gì phải nghi ngờ, phê bình, bài bác. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải như vậy, trong tính nhẫn nại vẫn có rất nhiều điểm cần đưa ra để phán xét, phê bình, bởi từ tính nhẫn nại này đã sản sinh ra một số nhược điểm khác, ví dụ: cam chịu, thụ động, ngại thay đổi và không dám quyết tâm đấu tranh cho công bằng, lẽ phải, cho sự phát triển của chính mình và xã hội.

Theo STUDYINCHINA.VN

5 thg 2, 2015

- Thứ Năm, tháng 2 05, 2015 -    No comments
Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2012, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và những quyết sách của nhà lãnh đạo này về đối nội, đối ngoại luôn là đề tài bán tán sôi nổi của giới truyền thông trong và ngoài Trung Quốc.
Giải đáp 5 câu hỏi về ông Tập Cận Bình
Ông Tập Cận Bình đã giữ 3 chức vụ quan trọng của nhà nước TQ là Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy trung ương và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản TQ
Muốn hiểu được chính sách ngoại giao của Trung Quốc, ta cần phải hiểu được nền chính trị của đất nước này. Ngoại giao là một phần mở rộng của chính trị đối nội; vì vậy nếu hiểu sai những tính toán của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ dẫn đến nguy cơ diễn giải sai lệch chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Điều này đặc biệt đúng ở hiện tại, khi mối liên hệ qua lại giữa công tác đối nội và đối ngoại của Trung Quốc được tăng cường mạnh mẽ kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền.

Điển hình như việc Bắc Kinh thiết lập Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở Biển Hoa Đông vào tháng 11/2013, vài ngày sau Hội nghị Trung ương 3 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 18. Kỳ họp quan trọng này đã đưa ra quyết định thành lập hai cơ quan mới: Tiểu ban chỉ đạo Trung ương về thúc đẩy cải cách sâu sắc toàn diện và Ủy ban An ninh Quốc gia. Quyết định trên có thể là bước mở đầu để thiết lập ADIZ.

Khó có thể bàn luận về chính sách đối ngoại của Trung Quốc mà không cân nhắc đến tình hình chính trị trong nước; và ta cũng không thể nói về chính trị trong nước mà bỏ qua nhân tố Tập Cận Bình. Ở bên ngoài, ông Tập Cận Bình là chủ đề bàn tán không ngớt. Trong bài viết này, tác giả sẽ cố gắng giải đáp năm câu hỏi lớn về chính trị đối nội của Trung Quốc, dựa trên những kinh nghiệm có được từ nghề làm báo cũng như qua quá trình quan sát lâu dài về sự phát triển của nước này.

Câu hỏi thứ nhất: Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường là đối thủ hay đối tác?

Khởi nguồn của vấn đề này là bởi nhiều người nhận thấy một thực tế rằng so với các thông tin tuyên truyền ồ ạt về Tập Cận Bình tại Trung Quốc, thì Lý Khắc Cường nhận được ít sự chú ý hơn. Điều này càng rõ nét hơn khi so sánh với Ôn Gia Bảo, người tiền nhiệm của Lý Khắc Cường, nhân vật từng được truyền thông vô cùng yêu mến.

Thủ tướng đầu tiên của Trung Quốc Chu Ân Lai là một người nổi tiếng, thậm chí nhà lãnh đạo này còn được biết tới nhiều hơn cả cố Chủ tịch Mao Trạch Đông. Cũng chính vì thế, kể từ thời Chu Ân Lai, cụm từ “thủ tướng” bắt đầu mang ý nghĩa đặc biệt ở Trung Quốc. Phần lớn mọi người dân đều hi vọng thủ tướng đương nhiệm có năng lực, sức lôi cuốn và tính kiên quyết của Chu Ân Lai. Điều này vô hình đã tạo áp lực lớn lên giới lãnh đạo cấp cao Trung Quốc.

Giống như nhiều nhà quan sát khác, tác giả từng cho rằng có một sự cạnh tranh âm thầm hay thậm chí là một “cuộc chiến truyền thông” giữa Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường. Tác giả thấy mơ hồ trước những câu chuyện do truyền thông thêu dệt. Song, tác giả nhận ra rằng Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường về cơ bản chính là đối tác của nhau, họ có thiện chí hợp tác vượt lên trên những bất đồng giữa đôi bên.

Sau khi Chủ tịch Tập Cận Bình lên nhậm chức, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tăng cường nỗ lực “điều hành quốc gia thông qua các tiểu ban chỉ đạo”, thành lập các cơ quan quan trọng như Tiểu ban chỉ đạo Trung ương về Thông tin hóa và An ninh mạng, và Tiểu ban chỉ đạo Cải cách Quân sự, bên cạnh Tiểu ban chỉ đạo Trung ương về thúc đẩy cải cách sâu sắc toàn diện và Ủy ban An ninh Quốc gia Trung Quốc đã được đề cập ở trên. Lý Khắc Cường là người điều hành thứ hai trong hầu hết các ban chỉ đạo này – một ngoại lệ đáng lưu ý là gồm cả các tiểu ban chỉ đạo liên quan đến quân đội. Quyền hạn của ông Lý Khắc Cường không những không bị hạn chế, mà dường như còn vượt ra ngoài lĩnh vực kinh tế vốn do thủ tướng điều hành. Điều đó cho thấy Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường cùng chia sẻ một sự hiểu biết ngầm, không chỉ trong vấn đề cải cách và kinh tế mà trong hầu hết tất cả các lĩnh vực.

Tại Hội thảo Internet toàn cầu lần thứ nhất được tổ chức ở Trung Quốc gần đây, ông Lý Khắc Cường đã phát biểu thay mặt Chủ tịch Tập Cận Bình khi đó đang công du nước ngoài. Điều này khẳng định vị thế thứ hai của Lý Khắc Cường tại Tiểu ban chỉ đạo Trung ương về Thông tin hóa và An ninh mạng. Bên cạnh đó, mới đây ông Lý Khắc Cường còn đón tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu khi Tập Cận Bình không có mặt ở Bắc Kinh.

Vậy phải giải thích sự khác biệt trong mức độ chú ý của truyền thông ra sao? Theo lời một quan chức chính phủ Trung Quốc, giới lãnh đạo nước này đã nhất trí rằng việc làm nổi bật quyền uy của Chủ tịch Tập Cận Bình là cần thiết, nhằm đáp lại mong muốn của người dân về một “vị anh hùng” có thể giải quyết các vấn đề khó khăn mà Trung Quốc phải đối mặt khi thực hiện công cuộc cải cách và chống tham nhũng. Ngoài ra, tác giả cho rằng Lý Khắc Cường có thể đơn giản là một người có tính cách khiêm nhường hơn người tiền nhiệm Ôn Gia Bảo, cũng giống như Hồ Cẩm Đào, người có phong cách ít nổi bật hơn người kế nhiệm Tập Cận Bình.

Câu hỏi thứ hai: Ai là cố vấn tin cậy nhất của Tập Cận Bình?

Câu trả lời cho câu hỏi này thường chỉ là phỏng đoán. Một số khả năng gồm có: Lý Hi, bạn cùng học của Tập Cận Bình và hiện đang là Chủ tịch tỉnh Liêu Ninh; Đinh Tiết Tường, thư ký của Chủ tịch Tập Cận Bình đồng thời là Phó chánh Văn phòng Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc; hay Vương Hộ Ninh, người đứng đầu Văn phòng Nghiên cứu Chính sách Trung ương. Mỗi người đều thỏa mãn những yêu cầu cần thiết để trở thành người đáng tin cậy bên cạnh Tập Cận Bình.

Tuy nhiên, gần đây Tập Cận Bình vừa công bố các biện pháp quan trọng liên quan đến các vấn đề như chống tham nhũng, tuyên huấn, vũ trang và an ninh. Công bố này bổ sung một vài gợi ý để phán đoán những người thân tín của Chủ tịch Tập Cận Bình. Theo quan điểm của tác giả Mục Xuân Sơn, các đồng chí của Tập Cận Bình bao gồm Vương Kỳ Sơn, Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương; Lỗ Vĩ, người chỉ đạo Văn phòng của Tiểu ban chỉ đạo Trung ương về Thông tin hóa và An ninh mạng; Tướng Lưu Nguyên và Lật Chiến Thư, Chánh Văn phòng Ủy ban Trung ương (cũng là người chịu trách nhiệm về hoạt động của Ủy ban An ninh Quốc gia Trung Quốc).

Có thể nói vai trò của Vương Kỳ Sơn là quá rõ ràng. Nếu không có nhân vật này, các chiến dịch chống tham nhũng ở Trung Quốc sẽ “phá sản”, và công chúng không dành nhiều kỳ vọng cho ông Tập Cận Bình đến vậy. Trong khi đó Lỗ Vĩ là một người điều hành ít nổi bật, trẻ tuổi và có năng lực. Ông từng làm việc nhiều năm ở Tân Hoa Xã và sau này đảm nhiệm công tác tuyên truyền tại Bắc Kinh. Gần đây, ông Lỗ Vĩ nắm quyền điều hành mạng Internet của toàn Trung Quốc. Dưới sự điều hành của nhân vật này, hình ảnh của Tập Cận Bình đã được phác họa thành “người của công chúng” trên mạng Internet. Và những “Tiếng nói lớn” (ám chỉ những người bất đồng chính kiến có ảnh hưởng nhất trên mạng xã hội Trung Quốc) đã buộc phải im lặng, và đây chính là điều chính phủ cần. Có rất nhiều lý do để tin rằng Lỗ Vĩ giành được sự đánh giá cao của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Đối với Lưu Nguyên, đây là người được coi là trợ thủ đắc lực của Tập Cận Bình trong quân đội. Mặc dù Chính phủ Trung Quốc chưa bao giờ tiết lộ mối quan hệ giữa Lưu Nguyên và Tập Cận Bình, song truyền thông Hong Kong cho biết Chủ tịch Tập Cận Bình đã ủng hộ ông Lưu Nguyên trong cuộc chiến chống Từ Tài Hậu, nguyên Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Thậm chí còn có tin đồn rằng Lưu Nguyên sẽ đóng một vai trò quan trọng trong Ủy ban giám sát kỷ luật của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA). Ngoài ra, cả ông Tập Cận Bình lẫn ông Lưu Nguyên đều là con cháu các nguyên lão của Đảng, những “hạt giống đỏ” trung thành với nhà nước và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cuối cùng là Lật Chiến Thư, người chịu trách nhiệm hoạch định toàn bộ các hoạt động của Chủ tịch Tập Cận Bình, và đảm bảo an toàn cá nhân cho nhà lãnh đạo này. Một bằng chứng rõ ràng về tầm quan trọng của Lật Chiến Thư là nhân vật này luôn nằm trong đoàn tháp tùng ông Tập Cận Bình trong các chuyến công du nước ngoài.

Câu hỏi thứ ba: Chủ tịch Tập Cận Bình có gặp phải sự chống đối chính trị thực sự nào không?

Trái với nền chính trị phương Tây, Đảng Cộng sản Trung Quốc không hề hé lộ chuyện phe cánh trong nội bộ, đây được xem là một nguyên tắc từ thời cố Chủ tịch Mao Trạch Đông. Bất cứ phe phái nào quá lộ liễu đều nhanh chóng bị gán mác “chủ nghĩa bè phái” và trở thành mục tiêu phê phán. Nói cách khác, về mặt lý thuyết, một đảng viên chỉ được phép trung thành với toàn Đảng chứ không phải với một cá nhân nào đó.

Vì vậy, bên ngoài, các quan chức cấp cao của Đảng không bao giờ để lộ dấu hiệu bất hòa. Công chúng hoàn toàn không biết về sự sụp đổ của Bạc Hy Lai, cựu Bí thư Thành ủy Trùng Khánh, cho đến tận tháng 3/2012, khi Phiên họp Đại hội đại biểu nhân dân hàng năm kết thúc. Đến khi cựu Thủ tướng Ôn Gia Bảo chỉ trích “mô hình Trùng Khánh” của Bạc Hy Lai tại buổi họp báo thì người dân mới nhận ra thời của Bạc Hy Lai đã hết. Hầu hết mọi người tin rằng việc Bạc Hy Lai “ngã ngựa” có liên quan tới cuộc đấu đá chính trị trong nội bộ Đảng, song không ai có thể đưa ra bằng chứng xác thực chứng minh Bạc Hy Lai là đối thủ chính trị của Chủ tịch Tập Cận Bình.

Tuy vậy, ông Tập Cận Bình chắc chắn đã phải đối mặt với sự phản kháng và chống đối thật sự. Có lần ông Tập Cận Bình đã công khai phát biểu: “Công cuộc cải cách bước vào thời kỳ khó khăn và chạm đến vùng nước sâu” và “Tình hình chống tham nhũng vẫn còn phức tạp và nghiêm trọng”. Đây là các dấu hiệu cho thấy những chiến dịch này đang vấp phải một cuộc đấu tranh chính trị hết sức quyết liệt.

Đó chính là lý do tại sao Chính phủ Trung Quốc xây dựng sức mạnh của Tập Cận Bình qua các phương tiện truyền thông. Ông Tập cần sự đoàn kết trong Đảng cũng như sự ủng hộ của quần chúng. Một quan chức Trung Quốc đã nói rằng: “Họ (phe đối lập) rất cứng rắn, vì vậy Chủ tịch Tập Cận Bình phải cứng rắn hơn họ”. Vậy ai ở phe đối lập? Chỉ cần tìm ra “những con hổ lớn” và Tập Cận Bình sẽ không để họ yên.

Câu hỏi thứ tư: Tập Cận Bình có thực sự hy vọng sẽ vượt qua các lãnh đạo tiền nhiệm để trở thành một “kiến trúc sư mới”?

Việc so sánh ông Tập Cận Bình với “kiến trúc sư mới” của Trung Quốc là một sáng kiến của giới truyền thông, trong khi cả Chủ tịch Tập Cận Bình lẫn báo chí chính thống đều không thừa nhận cụm từ này. Danh hiệu này chỉ xuất hiện trên trang web của “Nhân dân Nhật báo”. Nếu Đảng Cộng sản Trung Quốc thực sự muốn ca ngợi Tập Cận Bình là “kiến trúc sư mới”, họ sẽ chạy một tiêu đề lớn trên báo giấy của tờ “Nhân dân Nhật báo”.

Cách đây hai năm, ông Hồ An Cương, Giáo sư trường Đại học Thanh Hoa, đã viết một bài báo trên tờ “Nhân dân Nhật báo” nói rằng Trung Quốc áp dụng “hệ thống lãnh đạo tập thể”, một cái gì đó khác với hệ thống dân chủ phương Tây và truyền thống trung ương tập quyền của Cộng sản. Trong hệ thống của Trung Quốc, quyền lực được chia sẻ giữa các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Quyết định về các vấn đề chính được đưa ra bằng cách lấy biểu quyết. Ý kiến táo bạo này của Giáo sư Hồ An Cương đã được cấp cao thừa nhận.

Chúng ta có thể coi sự xuất hiện của cụm từ “kiến trúc sư mới” như một cách để chính phủ thăm dò phản ứng của công chúng. Đây là thời điểm thuận lợi để các phương tiện truyền thông khác tiếp tục truyền bá danh hiệu này, bởi vì không những không gặp rủi ro gì mà còn vô cùng hữu ích. Sự ra đời một “khái niệm mới” về Tập Cận Bình sẽ thu hút sự chú ý từ khắp nơi trên thế giới.

Điều quan trọng là ông Tập Cận Bình mới chỉ nhậm chức được hai năm, và ông còn ít nhất 8 năm cầm quyền nữa. Trong giai đoạn này, ông Tập Cận Bình sẽ phải là một kiến trúc sư có đầu óc sắc sảo để có thể thâu tóm dần quyền lực mà trước đây nằm trong tay các ủy viên thường trực khác. Tuy nhiên, không có dấu hiệu cho thấy ông Tập Cận Bình sẽ lật đổ “hệ thống lãnh đạo tập thể” bằng cách lấy đi quyền bình đẳng trong quá trình ra quyết định của các ủy viên thường trực khác. Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ không thể phá vỡ hoàn toàn cơ cấu chính trị thượng tầng của Đảng Cộng sản Trung Quốc vốn đã hoàn thiện trong 20 năm qua kể từ thời Giang Trạch Dân.

Tác giả Mục Xuân Sơn khẳng định ông Tập Cận Bình là người ý thức được vai trò lịch sử của mình, và những gì ông ta làm không chỉ có giá trị đối với Trung Quốc ngày nay, mà còn đem lại lợi ích cho sự phát triển của Trung Quốc trong tương lai. Trung Quốc cần phải thay đổi, và Tập Cận Bình đã được lịch sử lựa chọn để thúc đẩy cải cách và chống tham nhũng.

Một quan chức Trung Quốc từng đồng ý với quan điểm này và cho rằng Chủ tịch Tập Cận Bình sẽ đóng vai người hùng giúp Trung Quốc phát triển tốt đẹp hơn, an toàn hơn và ít rủi ro hơn. Theo quan chức này, ít nhất sẽ mất 5 năm để danh xưng “kiến trúc sư mới” chính thức được chấp nhận.

Câu hỏi thứ năm: Người dân Trung Quốc nghĩ gì về Chủ tịch Tập Cận Bình?

Liên tưởng đến Tổng thống Nga Putin: Bất chấp sức ép và sự trừng phạt của phương Tây, ông Putin vẫn nhận được tỉ lệ ủng hộ cao. Trong cuộc gặp với Tổng thống Nga Putin hồi năm ngoái, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhận ra mình và Putin có tính cách giống nhau. Một số hành động của Chủ tịch Tập Cận Bình nhận được sự ủng hộ ở Trung Quốc, tương tự như Putin ở Nga.

Phần lớn người dân Trung Quốc ủng hộ Chủ tịch Tập Cận Bình bởi họ đánh giá ông là một nhà lãnh đạo kiểu khác. Ông giới thiệu phu nhân của mình tại các hoạt động ngoại giao; ông cho phép đăng các hình hoạt họa về mình trên mạng Internet; ông thể hiện sự kiên quyết khi lật đổ các ủy viên Bộ Chính trị khác; và ông sẵn sàng tỏ ra cứng rắn với Mỹ và Nhật Bản.

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, mong muốn của người dân Trung Quốc đang thay đổi. Họ mưu cầu hội nhập quốc tế cũng như được cộng đồng quốc tế công nhận. Chủ tịch Tập Cận Bình đang thỏa mãn nhu cầu tâm lý này đồng thời đáp ứng các nhu cầu về kinh tế. Dưới thời Tập Cận Bình, đất nước và con người Trung Quốc có vẻ đã khác so với trước kia.

Một số người có thể lo ngại Tập Cận Bình đang khôi phục tư tưởng “sùng bái cá nhân” từ thời Mao Trạch Đông. Một quan chức chính phủ đã bác bỏ điều vô lý này. Ông cho rằng truyền thông đã làm phức tạp hóa mọi chuyện. Ngày nay người dân có quyền tự do lựa chọn giữa rất nhiều ý tưởng phóng khoáng và đa dạng; do đó không thể có chỗ cho sự sùng bái cá nhân. Quan chức này khẳng định không ai trong chính phủ muốn phục hồi tư tưởng này, nhưng nó lại là yếu tố cần thiết để tạo dựng quyền uy cho Chủ tịch Tập Cận Bình.

Gần đây, rõ ràng là các phương tiện truyền thông đã hơi quá đà trong các chiến dịch tuyên truyền cho Tập Cận Bình. Thế giới có xu hướng diễn giải quá mức những thông tin này, với khả năng tính toán sai lầm về sự phát triển của Trung Quốc trong tương lai. Thậm chí điều này có thể ru ngủ bản thân ông Tập Cận Bình vào một cảm giác an toàn giả tạo. Để tránh kết cục như vậy đòi hỏi cần phải có một tư duy khách quan về các vấn đề đối nội và đối ngoại.
 
Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

2 thg 2, 2015

- Thứ Hai, tháng 2 02, 2015 - ,    No comments

Trung Quốc vừa nâng cấp hệ thống tường lửa quốc gia vốn đã rất hiệu quả trước đó nhằm nới rộng sự tách biệt giữa mạng Internet tại quốc gia này và thế giới World Wide Web, theo tường thuật của tờ WSJ.

Trung Quốc mạnh tay kiểm soát Internet
Hệ thống lọc và kiểm soát Internet cấp quốc gia của Trung Quốc, hay còn được biết đến với tên gọi là vạn lý tường lửa Great Firewall, vừa được nâng cấp chắc chắn sẽ khiến cho nhiều người dân Trung Quốc khó khăn hơn trong việc truy cập các website bị chặn - trong đó có Facebok, Twitter, Google và YouTube cũng như vài dịch vụ của GMail, theo tờ Wall Street Journal nhận định.

Trang tin công nghệ Cnet cho biết, hệ thống tường lửa quốc gia Great Firewall được giới chức Trung Quốc sử dụng để vô hiệu hóa mọi truy xuất đến các nội dung quan trọng của chính phủ nước này, đồng thời kiểm soát mọi thông tin mà người dân có thể tìm thấy trên mạng Internet.

Chưa dừng lại ở đó, hồi tuần trước, vài quan chức Trung Quốc từng xác nhận quốc gia này đã làm cho việc truy cập các dịch vụ mạng riêng ảo (VPN) trở nên khó khăn hơn. Được biết, sử dụng các dịch vụ/công cụ VPN - ví du như Astrill - như là cách mà khá nhiều người Trung Quốc sử dụng để phá vỡ cơ chế cấm truy cập vảo những dịch vụ của Mỹ như Facebook hay Google.

Tờ WSJ dẫn lời một quan chức cao cấp Trung Quốc cho biết những hành động kiểm duyệt như thế sẽ tiếp diễn trong tương lai.

Nâng cấp hệ thống tường lửa quốc gia là động thái cho thấy ý định của giới chức Trung Quốc trong việc tạo ra một môi trường Internet song song và qua đó chính quyền có thể dễ dàng kiểm soát hơn.

Việc gây khó cho người dùng khi truy xuất các dịch vụ nước ngoài cũng được xem là chiêu bài mà Trung Quốc sử dụng để bảo vệ các dịch vụ web đang phát triển của các hãng công nghệ bản địa.

Cũng hồi đầu tuần rồi, Trung Quốc vừa ban hành quy định mới đối với các hãng nước ngoài muốn tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại quốc gia đông dân nhất thế giới này. Đặc biệt, với các hãng công nghệ, Trung Quốc buộc họ phải công khai mã nguồn, đồng ý cho tiến hành kiểm tra cũng như triển khai "cửa hậu" (backdoor) trên cả phần cứng lẫn phần mềm.

Theo PCWorldVN

16 thg 12, 2014

- Thứ Ba, tháng 12 16, 2014 -    No comments
Trong con mắt của người chơi cờ vây, những gì Trung Quốc đã và đang làm ở Biển Đông là một ví dụ điển hình về thuật chơi cờ vây. Chiến lược này cần đến một số điểm mấu chốt: tránh chiến sự, đụng độ; kiểm soát những vị trí chiến lược trên biển và xây dụng chúng thành những điểm kiểm soát và căn cứ hậu cần vững chắc.
Chiến lược cờ vây của Trung Quốc ở Biển Đông
Bài viết của tác giả Alexander Vuving - Giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á – Thái Bình Dương (APCSS). Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả. Bài viết của được đăng lần đầu tiên trên trang Indo-Pacific Review.
Người phương Tây nói chung thường khó nhận ra các động thái chiến lược của Bắc Kinh vì họ có thiên hướng nhìn nhận trò chơi giữa các quốc gia theo tư duy của một ván cờ vua. Trong khi đó, các nhà quan sát chiến lược Trung Quốc lâu năm như Henry Kissinger và David Lai thì cho rằng Trung Quốc vận dụng thuật cờ vây trong phần lớn các mối quan hệ đối ngoại của nước này.

Cờ vây là trò chơi lâu đời và nổi tiếng nhất ở Trung Quốc. Giống như tên gọi của nó, cờ vây là trò chơi bao vây; còn cờ vua là trò chơi chiếu tướng. Cờ vua có các quân cờ như vua, hậu hoặc tốt, có giá trị và quyền uy khác nhau, quy ước theo đặc tính của mỗi quân cờ tương ứng. Còn trong cờ vây, chỉ có các quân tròn giống hệt nhau, quyền uy của quân cờ chính là vị trí mà nó được đặt trên bàn cờ. Nếu cách chơi của cờ vua là nhằm tích tụ sức mạnh quân ta và làm suy yếu sức mạnh đối phương; thì cờ vây là nhằm chiếm giữ và sử dụng những vị trí chiến lược quan trọng.

Các nhà quan sát quốc tế sử dụng lăng kính của cờ vua sẽ khó nhận ra được các động thái của Trung Quốc ở Biển Đông. Các quân tốt được đẩy ra phía trước, nhưng các quân cờ khác mạnh hơn thì ít được sử dụng. Quân cờ mạnh nhất trên bàn cờ là căn cứ tàu ngầm hạt nhân Du Lâm (Yulin) phía nam đảo Hải Nam. Tuy nhiên, căn cứ này lại không nằm trong khu vực tranh chấp. Quân đội ít khi can dự vào tranh chấp, mà chủ yếu là các tàu cá và tàu vũ trang hạng nhẹ của chính phủ. Đối tượng tranh giành chủ yếu lại là những bãi đá nhỏ, cằn cọc và thường chìm dưới mặt nước.

Rõ ràng, nếu nhìn trò chơi này từ góc độ cờ vua, thì một nhà ngoại giao kỳ cựu đã cho rằng, “các cường quốc không gây chiến với nhau vì những bãi đá,” còn một nhà phân tích hàng đầu thì kết luận rằng “căng thẳng giữa một cường quốc đang trỗi dậy và các nước láng giềng là tự nhiên và không tạo ra mối nguy lớn đối với cân bằng quyền lực toàn cầu, và thậm chí không ảnh hưởng gì đến sự vận hành bình thường của hệ thống quốc tế.”

Nhưng trong con mắt của người chơi cờ vây, những gì Trung Quốc đã và đang làm ở Biển Đông là một ví dụ điển hình về thuật chơi cờ vây. Mục tiêu cuối cùng là giành kiểm soát khu vực. Chiến dịch để đạt được mục tiêu này không dựa vào các trận chiến có sự tham gia của của các quân cờ hùng mạnh như trong cờ vua, mà dựa vào việc bành trướng dần dần. Đây là một chiến dịch kéo dài hàng thập kỷ. Logic cơ bản là dần thay đổi mọi thứ theo hướng có lợi cho sự thống trị của Trung Quốc bằng việc kín đáo điều khiển sự bố trí chiến lược (strategic configuration) của toàn khu vực.

Chiến lược này cần đến một số điểm mấu chốt sau: (i) Thứ nhất, càng tránh được chiến sự càng tốt; đụng độ chỉ xảy ra khi cần phải tận dụng một tình huống có lợi. (ii) Thứ hai, kiểm soát những vị trí chiến lược nhất trên biển; nếu chưa sở hữu được thì phải chiếm các vị trí này một cách lén lút nếu có thể, và trong phạm vi một cuộc xung đột nhỏ nếu cần thiết. (iii) Thứ ba, xây dựng các vị trí này thành những điểm kiểm soát vững chắc, phát triển thành các trung tâm hậu cần và cơ sở phát huy sức mạnh hiệu quả.

Sáu thập kỷ bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông kể từ những năm 1950, đã cho thấy họ tuân thủ rất chặt chẽ các yêu cầu trên.

Dù sẵn sàng chấp nhận tham gia vào đối đầu quân sự nhưng Trung Quốc thường tránh sử dụng các trận chiến vũ trang quy mô lớn để mở rộng vùng kiểm soát của mình. Trong số các cuộc chiến giành giật lãnh thổ trong sáu thập kỷ qua, chỉ có hai vụ liên quan đến đụng độ vũ trang. Cuộc đụng độ thứ nhất diễn ra vào tháng 1/1974 với Việt Nam Cộng hòa và kết cục là Trung Quốc chiếm nhóm Lưỡi Liềm (Crescent Group) – phần phía Tây của Quần đảo Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa. Cuộc đụng độ thứ hai có quy mô nhỏ hơn nhiều, nhưng không kém phần đẫm máu – đánh chiếm Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) của Việt Nam vào tháng 4/1988.

Điều đáng lưu ý về hai cuộc đối đầu này là đều xảy ra vào thời điểm xuất hiện khoảng trống quyền lực ở khu vực. Trong cuộc đối đầu thứ nhất, Mỹ đang rút khỏi khu vực; và cuộc thứ hai, Liên Xô rút khỏi khu vực. Trong cả hai vụ việc, Trung Quốc đều nhận được sự đồng thuận ngầm của Mỹ, chủ thể mạnh nhất ở Châu Á – Thái Bình Dương). Vì thế, các xung đột quân sự ít gây ra các hệ quả về ngoại giao.

Điểm mấu chốt thứ hai được phản ánh trong việc Trung Quốc lựa chọn địa điểm để chiếm đóng ở khu vực tranh chấp. Khi Trung Quốc cạnh tranh với Việt Nam để giành quyền hiện diện ở Quần đảo Trường Sa năm 1988, Trung Quốc đã chấp nhận đổi số lượng lấy chất lượng. Trung Quốc chiếm 6 bãi đá, so với con số 11 của Việt Nam. Nhưng năm trong số sáu bãi đá đó là những thực thể có vị trí chiến lược nhất trên Quần đảo Trường Sa.

Lựa chọn đầu tiên của Trung Quốc ở Quần đảo Trường Sa là Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), một trong những điểm tốt nhất ở Trường Sa nếu xét cả về vị trí lẫn tiềm năng cải tạo đất. Đá Chữ Thập nằm ở một địa điểm lý tưởng nơi cửa ngõ phía tây của Quần đảo Trường Sa, và là một trong số ít các đảo ở Trường Sa tiếp xúc với các tuyến đường vận tải chính xuyên đại dương đi qua Biển Đông. Vị trí không quá xa nhưng cũng không qua gần các nhóm đảo khác khiến nó một mặt giảm nguy cơ bị tấn công, mặt khác dễ mở rộng phạm vi ảnh hưởng. Ngoài các lợi thế này, Đá Chữ Thập còn chiếm một diện tích khoảng 10 km2, một trong những thực thể lớn nhất ở Quần đảo Trường Sa.

Bốn trong số năm bãi đá còn lại (bao gồm Đá Su Bi (Subi Reef), Đá Ga Ven (Gaven Reef), Đá Gạc Ma (Johnson South Reef) và Đá Châu Viên (Cuarteron Reef)), nằm ở rìa của bốn nhóm đảo khác nhau, từ đó có thể kiểm soát một vùng biển rộng lớn và các tuyến đường biển quan trọng đi vào các nhóm đảo. Hai thực thể khác mà Trung Quốc chiếm giữ sáu đó cũng có giá trị chiến lược lớn - Đá Vành Khăn (Mischief Reef) và Bãi cạn Scarborough. Đá Vành Khăn, thực thể Trung Quốc lén lút chiếm từ tay Philippin năm 1995, nằm ở trung tâm của cánh phía đông của Quần đảo Trường Sa và gần với tuyến đường biển dọc phía đông Biển Đông. Còn Bãi cạn Scarborough, vốn từ năm 2012 đã thuộc quyền kiểm soát thực tế của Trung Quốc, nằm ở góc đông bắc Biển Đông, và là tiền tiêu lý tưởng để giám sát các tuyến vận tải biển chính qua khu vực.

Chiếm giữ được Quần đảo Hoàng Sa, Bãi cạn Scarborough và một số thực thể có vị trí chiến lược ở Quần đảo Trường Sa, Trung Quốc có ưu thế hơn so với các nước trong việc kiểm soát Biển Đông. Ví dụ, đảo Phú Lâm (Woody island), Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn và Bãi cạn Scarborough hợp thành hình bốn điểm có bán kính 250 hải lý, có thể giám sát toàn bộ Biển Đông.

Điều đó có nghĩa là những gì Trung Quốc cần tiến hành để làm chủ ở Biển Đông chỉ là cố gắng xây dựng những nơi này thành các căn cứ vững chắc, và triển khai nhiều loại tàu bè, cả quân dự và phi quân sự, cả trên và dưới mặt nước, và máy bay, cả có người lái và không người lái, đến khu vực. Những căn cứ này sẽ là nơi hỗ trợ hậu cần cho tàu bè và máy bay mà Trung Quốc triển khai.

Đây chính xác là những gì mà Trung Quốc đang tiến hành. 60 năm trước, từ một bãi cát không người ở nay Đảo Phú Lâm đã có tới hơn 1.000 cư dân và quân đội. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho dân sự và quân sự bao gồm một sân bay 2.700m với một đường bay và đường bộ song song, cho phép 8 máy bay thế thệ thứ tư như máy bay chiến đấu Su-30MKK và máy bay ném bom JH-7 cất hạ cánh cùng lúc; và một cảng nước sâu dài 1.000m có thể cho tàu 5.000 tấn neo đậu.

Ở phía nam Quần đảo Trường Sa, từ năm 2013, Trung Quốc đã thực hiện cải tạo với quy mô lớn để biến các bãi đá mà nước này chiếm đóng thành các đảo nhân tạo. Trong khi truyền thông quốc tế hướng chú ý tới Đá Gạc Ma, thì dự án cải tạo đất có thể tác động lớn nhất là ở Đá Chữ Thập.

Từ một bãi đá chìm tự nhiên, Đá Chữ Thập nay sẽ trở thành đảo lớn nhất ở Trường Sa. Sau dự án này, với diện tích đất khoảng 2 km2, Đá Chữ Thập thành sẽ lớn gấp 4 lần so với Đảo Ba Bình - hòn đảo tự nhiên lớn nhất ở Quần đảo Trường Sa. Diện tích đất mở rộng này sẽ cho phép xây dựng trên Đá Chữ Thập một sân bay 2.500m; một cảng biển 5.000 tấn; các trạm ra-đa; hệ thống tên lửa chống tàu đất đối không tầm trung đến tầm xa; các nhà kho và công trình dịch vụ khác có khả năng phục vụ cho hàng trăm tàu cá, tàu tuần tra, tàu chiến và máy bay chiến đấu.

Với hệ thống các đảo cải tạo có vị trí chiến lược này, Trung Quốc có tiềm năng lớn hơn so với bất kỳ cường quốc nào trong việc giành ưu thế về hải quân và không quân ở Biển Đông. Mặc dù còn chặng đường dài phía trước, song cũng không khó tưởng tượng ra viễn cảnh trong 2 thập kỷ tới là, Bắc Kinh sẽ rải đầy các căn cứ trên Biển Đông, từ Quần đảo Hoàng Sa ở tây bắc tới Đá Vành Khăn ở đông nam, và từ Bãi cạn Scarborough ở đông bắc tới Đá Chữ Thập ở tây nam.

Nếu thuật cờ vây trên đây là đúng, và nếu các đối thủ của Trung Quốc không có các biện pháp đối phó hiệu quả, Bắc Kinh sẽ trở thành vị chúa tể mới ở Biển Đông, và kết quả là một nước bá quyền mới ở Châu Á ra đời.

Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

5 thg 12, 2014

- Thứ Sáu, tháng 12 05, 2014 -    No comments
Các dự án của Trung Quốc tạo thành một thế liên hoàn trong khu vực: có dự án trấn ở tầm cao, tầm xa, chẹt lấy yết hầu đất nước, khống chế cả khu vực Đà Nẵng.

Chuyện dự án ở đèo Hải Vân bấy lâu nay thu hút sự quan tâm của cả nước, từ người dân đến các đại biểu Quốc hội, tướng lĩnh quân đội…
Những 'sự lạ' sau các dự án của Trung Quốc ở Đà Nẵng
Nó thu hút sự chú ý của dư luận bởi cái sự lạ: một nơi xung yếu trong thế phòng thủ đất nước lại được người ta dễ dàng cho nước ngoài thuê vì mục đích… kinh tế???

Nó còn lạ ở chỗ người dân hiểu được tính chất nghiêm trọng của dự án đối với an ninh quốc gia nhưng lãnh đạo địa phương lại không thấy được điều đơn giản ấy?

Lại lạ nữa khi mới đây ông Huỳnh Hùng, Giám đốc Đài Phát thanh và Truyền hình TP Đà Nẵng, cho báo chí hay: Công ty TNHH Silver Shores (có lãnh đạo là người Trung Quốc) gửi đơn xin TP làm dự án tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu vực Sơn Trà. Không những thế, công ty này còn xin đất ở huyện Hòa Vang để trồng rau mà theo ông Hùng, đây là vị trí nằm trên hướng rút lui chiến lược quốc phòng khi có sự cố.

Công ty TNHH Silver Shores còn thực hiện tiếp một loạt dự án khác như dự án khu ký túc xá cho nhân viên Silver Shores tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn. Vị trí này cũng theo ông Hùng nằm ngay giữa hai trận địa pháo phòng không C2 và C11 của Sư đoàn 375.

Quả thực, đọc những thông tin trên không khỏi giật mình. Xâu chuỗi các dự án ấy sẽ thấy, chúng tạo thành một thế liên hoàn trong khu vực: có dự án trấn ở tầm cao, tầm xa, chẹt lấy yết hầu đất nước, khống chế cả khu vực Đà Nẵng (dự án trên đèo Hải Vân), có dự án tầm gần (dự án tàu lặn đáy kính ngắm san hô tại khu vực Sơn Trà), có dự án chặn đường rút lui (dự án trồng rau ở Hòa Vang), có dự án nằm ngay giữa thế trận phòng không (dự án khu ký túc xá cho nhân viên Silver Shores tại phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn)…

Người ta có thể biện minh đấy chỉ thuần túy là những dự án kinh tế. Thì đúng là thế, có ai bảo đấy là dự án quân sự đâu! Nhưng người ta quên mất, vị trí đặt các dự án không đơn thuần là kinh tế.

Từ câu chuyện dự án đèo Hải Vân, Bộ Quốc phòng nên rà soát lại toàn bộ các dự án liên quan đến Trung Quốc trong cả nước, từ Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh rồi Hà Tĩnh, Huế, Đà Nẵng, Cam Ranh cho đến Tây Nguyên, Cà Mau… Hãy đánh dấu những dự án ấy trên bản đồ để xem nó có ý nghĩa gì đối với thế trận quốc phòng và an ninh đất nước?

Ngày xưa, khi Trọng Thủy xin ở rể An Dương Vương, vì quá tin vào tình hữu hảo người ta chỉ nghĩ đó là chuyện hạnh phúc của đôi lứa. Chỉ đến khi nước mất nhà tan mới thấm đau bài học của sự lơ là mất cảnh giác.

Câu chuyện ấy đến hôm nay và mãi mãi về sau vẫn còn nguyên giá trị.

Theo KIẾN THỨC

4 thg 11, 2014

- Thứ Ba, tháng 11 04, 2014 -    No comments
Trong khi các đối thủ của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương thực hiện chiến thuật "đặt cược nhiều cửa" thì Philippines dường như đã đặt hầu hết số trứng chiến lược mình có vào trong chiếc giỏ pháp lý không lấy gì làm chắc chắn.
Sự ngây thơ chiến lược của Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc
Philippines đã có một động thái ngây thơ về mặt chiến lược khi (đầu tháng 10) quyết định tạm ngừng hoạt động sửa chữa và nâng cấp đường băng cũ trên đảo Thị Tứ (Philippines gọi là Pagasa), một trong những thực thể đất lớn nhất và giá trị nhất ở Biển Đông có thể được hưởng Vùng Đặc quyền Kinh tế (Exclusive Economic Zone - EEZ) rộng 200 hải lý. Đường băng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Lực lượng Vũ trang Philippines (Armed Forces of Philippines - AFP) trong việc triển khai sức mạnh và bảo vệ yêu sách biển của nước này bên ngoài phạm vi lãnh hải.

Nhiều năm qua, không quân Philippines đã không được bổ sung dù chỉ một chiến đấu cơ hiện đại; Hàn Quốc dự kiến sẽ giao 12 máy bay huấn luyện chiến đấu FA 50 (trị giá 415,7 triệu USD) cho nước này những năm sắp tới. Trong khi đó, Hải quân Philippines từng bước củng cố hạm đội bé nhỏ, cũ kỹ của mình. Nhờ tầm nhìn chiến lược của nhà cố độc tài Philippines Ferdinand Marcos (1966-1986), người đã nhận ra tầm quan trọng của việc xây dựng các cấu trúc vững chắc có khả năng phòng thủ trên những thực thể tranh chấp ở Biển Đông, Philippines mới có thể thực thi chủ quyền liên tục và hiệu quả đối với đảo Thị Tứ, nơi hiện có cộng đồng dân cư sinh sống cùng một thị trưởng đứng đầu. Nhưng lợi thế này đang dần mất đi.

Manila đã cố gắng biện minh cho hành động gây tranh cãi đó bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng (tưởng là như vậy) của việc duy trì “nền tảng đạo đức cao” trong bối cảnh nước này đang tiến hành vụ kiện tại Tòa Trọng tài đặc biệt ở La-Hay chống lại yêu sách bành trướng trên biển của Trung Quốc, cũng như những hành động ngày càng quyết đoán của Bắc Kinh trong vùng EEZ 200 hải lý của Philippines. Tóm lại, Manila đã ưu tiên theo đuổi hành động pháp lý vốn dĩ không chắc chắn, thay vì đầu tư vào các cơ chế hữu hình, có thể thực sự bảo vệ những thực thể mà nước này hiện đang kiểm soát.

Trong khi đó, Manila và Washington cũng đang đối mặt với những trở ngại mới về chính trị và pháp lý trong việc thực thi Thỏa thuận Tăng cường Hợp tác Quốc phòng (Enhanced Defense Cooperation Agreement – EDCA) mới được ký kết gần đây, nhằm mục tiêu củng cố quan hệ đồng minh quân sự Mỹ-Philippines trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết đoán. Các bên yêu sách khác, như Việt Nam hay Đài Loan, cũng đã đẩy nhanh các nỗ lực củng cố chỗ đứng của mình ở mặt trận mới trên biển ở Châu Á. Ngay cả các quốc gia không phải là bên yêu sách, như Indonesia, cũng cải thiện năng lực để đối phó với những gì họ xem là “mối đe dọa thực sự” (từ Trung Quốc) đối với vùng biển của mình.

Sự ngây thơ chiến lược

Jay Batongbacal, một chuyên gia biển hàng đầu ở Philippines, gần đây có trao đổi với tôi rằng, vụ kiện của Philippines tại La-Hay, trái với quan điểm của một số quan chức Philippines, “không có gì là chắc chắn cả.” Trung Quốc nhất quyết phủ nhận thẩm quyền xét xử của bất kỳ cơ quan quốc tế nào đối với vấn đề liên quan đến chủ quyền và phân định lãnh thổ. Không ngạc nhiên khi Bắc Kinh khăng khăng bác bỏ toàn bộ quá trình phân xử trọng tài và cáo buộc Philippines đã khơi mào một cuộc khủng hoảng không cần thiết bằng việc quốc tế hóa những gì mà Trung Quốc coi là tranh chấp là song phương, và những tranh chấp này cần được giải quyết chủ yếu thông qua các kênh ngoại giao.

Với việc Trung Quốc tẩy chay toàn bộ quá trình phân xử trọng tài, thậm chí từ chối làm rõ tọa độ chính xác của học thuyết “đường chín đoạn” đầy tai tiếng, việc Philippines liệu có thể trông đợi vào một phán quyết cuối cùng, nhanh chóng có lợi cho yêu sách của nước này ở Biển Đông vẫn là điều chưa rõ ràng. Ngay cả khi Philippines có được một kết quả pháp lý thuận lợi, Trung Quốc hoàn toàn có thể phớt lờ điều đó. Xét cho cùng, tòa trọng tài không phải để giải quyết triệt để các vấn đề liên quan đến chủ quyền, đồng thời cũng không có một cơ chế thực thi phù hợp để đảm bảo thực hiện đúng các phán quyết của tòa. Rốt cuộc, Trung Quốc quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm soát trên thực tế - thay vì về mặt pháp lý - khu vực Tây Thái Bình Dương, nơi mà Trung Quốc coi là sân sau tự nhiên của mình.

Khả quan nhất thì một phán quyết thuận lợi của tòa cũng chỉ giúp củng cố “vụ kiện đạo đức” của Philippines chống lại một cường quốc biển đang trỗi dậy – Trung Quốc (cho đến nay, vẫn trụ vững trước các áp lực ngoại giao từ bên ngoài đối với các vấn đề nước này coi là “lợi ích cốt lõi”, từ các tranh chấp biển ở Tây Thái Bình Dương cho tới các phong trào chống Bắc Kinh ngày càng tăng ở Hồng Kông, Tân Cương, Đài Loan và Tây Tạng).

Tóm lại, chiến lược pháp lý của Philippines sẽ có ý nghĩa nếu là một phần trong chiến lược tổng thể để bảo vệ yêu sách biển của nước này trong bối cảnh Trung Quốc liên tục có các hành động nhằm thay đổi nguyên trạng. Về mặt lý thuyết, sẽ là tốt nhất nếu Philippines chỉ dọa đưa vấn đề ra tòa - thay vì thực sự khởi kiện - để buộc Trung Quốc phải ngồi vào bàn đàm phán, hoặc, có thể khởi kiện cùng các nước khác có cùng mục tiêu, chẳng hạn như Việt Nam. Tuy nhiên, hành động pháp lý trên thực tế đã trở thành vũ khí chính của Philippines chống lại Trung Quốc trong một tranh chấp biển ngày càng được quân sự hóa.

Kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, Philippines đã dần bị các đối thủ vượt qua ở những vùng biển tranh chấp. Cựu cố vấn an ninh quốc gia Philippines Roilo Golez gần đây có nói với tôi rằng, “[Đã từ lâu] AFP tập trung quá nhiều vào vấn đề an ninh trong nước... [Nhưng] môi trường an ninh đã thay đổi từ những năm 1990. Giới lãnh đạo đáng lẽ nên [sớm] nhận ra các bước đi của Trung Quốc ở Biển Đông.” Nỗ lực hiện đại hoá AFP đã không thể đối phó với những mối đe dọa mới xuất hiện trong vùng EEZ của Philippines, bởi theo ông Golez, các nguồn tài chính mới được phân bổ “[hướng đến] các hạng mục thứ yếu như thiết bị giao tiếp trường, thiết bị quan sát ban đêm, thay vì “mua sắm các hạng mục đắt tiền như máy bay chiến đấu đa chức năng và các tài sản của hải quân”, vốn rất quan trọng đối với nhiệm vụ phòng vệ biển.

Chạy đua với thời gian

Philippines đã tìm cách khắc phục các điểm yếu, bộc lộ rõ sau khi Trung Quốc giành quyền kiểm soát Đá Vành Khăn (Mischief Reef) - một thực thể mà Philippines cũng yêu sách - vào năm 1994, bằng việc mời quân đội Mỹ quay trở lại. Mỹ đã cắt giảm đáng kể sự hiện diện quân sự sau khi Hiệp định về Căn cứ Quân sự Mỹ-Philippines kết thúc vào năm 1991. Trung Quốc đã không bỏ phí thời gian nhanh chóng khai thác khoảng trống quyền lực tạm thời do Mỹ rút quân khỏi các căn cứ Subic và Clark ở Philippines. Tuy nhiên, chính quyền Obama đã từ chối làm rõ rằng liệu Washington có ứng cứu Philippines trong trường hợp nổ ra một cuộc chiến với Trung Quốc ở các thực thể tranh chấp Biển Đông hay không.

Trong khi đó, hai nước đồng minh đang phải hết sức nỗ lực củng cố liên minh quân sự bởi những giới hạn trong hiến pháp Philippines về việc thiết lập căn cứ quân sự thường trú của Mỹ tại nước này khiến EDCA chưa thể được thực thi ngay lập tức. EDCA là một thỏa thuận nhằm tăng cường khả năng răn đe tối thiểu của Philippines chống lại các ý đồ trên biển của Trung Quốc. Những ngày gần đây, quan hệ Mỹ-Philippines lại bị thử thách do làn sóng phẫn nộ của dân chúng trước vụ việc một lính thủy đánh bộ Mỹ bị cáo buộc giết một công dân Philippines. Vụ việc làm dấy lên mối quan ngại tồn tại nhiều năm về hành động phạm tội của các binh lính nước ngoài đóng quân ở Philippines. Các nhân vật và phong trào theo chủ nghĩa dân tộc đang phản đối mạnh mẽ những gì họ cho là vi phạm chủ quyền của Philippines bởi sự hiện diện của quân đội Mỹ trên đất Philippines. Các thượng nghị sĩ hàng đầu như Miriam Defensor-Santiago đang kêu gọi hủy bỏ Hiệp định Thăm viếng Quân sự (Visiting Forces Agreement - VFA), trong khi những thượng nghị sĩ khác kêu gọi xem xét lại thỏa thuận song phương này. Quyền xét xử người phạm tội tiếp tục là một vấn đề chính trị nhạy cảm ở Philippines, bởi thỏa thuận VFA năm 1998 VFA quy định rằng nước sở tại không có toàn quyền xét xử các vụ án hình sự liên quan đến binh sĩ Mỹ. Binh sĩ bị cáo buộc giết người hiện đang bị chính quyền Mỹ giam giữ (trên tàu chiến USS Peleliu) tại Subic. Giới chức Mỹ đã tìm cách giảm nhẹ hậu quả chính trị từ vụ việc trên bằng việc hứa hẹn tiến hành một cuộc điều tra đầy đủ và kỹ lưỡng.

Với việc Trung Quốc đang đẩy mạnh các hoạt động xây dựng - nước này đã xây dựng một đường băng quân sự trên đảo Phú Lâm (Quần đảo Hoàng Sa) và một đường băng khác ở Đá Chữ Thập (Quần đảo Trường Sa) - và các bên tranh chấp khác, gồm cả Đài Loan, cũng đang củng cố các vị trí mà mình chiếm đóng. Ví dụ, Đài Loan đang xây dựng một cầu cảng trị giá 100 triệu USD ở Đảo Ba Bình (Đài Loan gọi là Thái Bình), trên đảo này hiện có một đường băng quân sự được duy trì khá tốt. Cầu cảng mới, dự kiến hoàn thành vào năm 2015, có đủ khả năng neo đậu các tàu tuần duyên và tàu khu trục lớn của hải quân. Đài Loan cũng đang nâng cấp đường băng để máy bay vận tải Hercules C-130 có thể cất hạ cánh, đồng thời đang hoàn thiện một dự án đầy tham vọng, đó là khảo sát toàn bộ Biển Đông thông qua hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao. Điều này giúp Đài Loan có một bức tranh toàn diện hơn về thực trạng phát triển của các thực thể tranh chấp, cung cấp những thông tin tình báo giá trị khi xảy ra các sự vụ liên quan đến pháp lý và quân sự.

Không giống như Philippines, hầu hết các bên yêu sách khác đều duy trì đối thoại cấp cao sâu rộng và thường xuyên với Bắc Kinh. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình vẫn chưa có một cuộc đối thoại chính thức nào với người đồng cấp Philippines Benigno Aquino, người sắp kết thúc nhiệm kỳ tổng thống. Và cũng không có dấu hiệu cho thấy một sự kiện như vậy sẽ sớm xảy ra. Tuy nhiên, điều thú vị là Nhật Bản, đối tác chiến lược chính của Philippines, đã không ngừng thúc đẩy một cuộc đối thoại giữa Thủ tướng Shinzo Abe và ông Tập. Các báo cáo cho rằng ông Abe đã đồng ý thừa nhận quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư ở Biển Hoa Đông có tranh chấp, để có được một cuộc gặp lịch sử với nhà lãnh đạo Trung Quốc. Philippines sẽ thận trọng theo dõi cuộc gặp giữa ông Abe và ông Tập, bởi bất kỳ sự ấm lên nào trong quan hệ giữa hai cường quốc Châu Á này có thể tác động đến nỗ lực của Philippines tranh thủ tối đa sự ủng hộ của quốc tế để chống lại Trung Quốc.

Để giải quyết cuộc khủng hoảng giàn khoan gần đây, Việt Nam đã triển khai một cuộc tấn công ngoại giao chủ động, mà đỉnh điểm là chuyến thăm Trung Quốc vào cuối tháng 8 của Ủy viên Bộ Chính trị Lê Hồng Anh. Kể từ đó, căng thẳng giữa hai nước đã giảm đi, trong khi hai bên tìm cách củng cố các cơ chế quản lý khủng hoảng hiện có để tránh một cuộc khủng hoảng tương tự xảy ra trong tương lai. Quay trở lại năm 2012, Bộ Ngoại giao hai nước đã thiết lập một đường dây nóng, để có thể trao đổi hàng loạt vấn đề, trong đó có vấn đề tranh chấp biển. Trong năm 2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của Việt Nam và Bộ Nông nghiệp của Trung Quốc cũng thiết lập một đường dây nóng để ngăn ngừa các rủi ro và tranh chấp liên quan đến nguồn lợi thủy sản. Gần đây nhất, theo các quan chức Việt Nam, hai nước cũng đã đồng ý thiết lập một đường dây nóng giữa Bộ Quốc phòng hai bên. Dựa trên những trao đổi gần đây với một nhà ngoại giao Việt Nam, có thể thấy rằng thách thức thực sự là việc triển khai hóa những cơ chế này nếu nổ ra một cuộc khủng hoảng thực tế: trong cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu giữa năm 2014, gây ra một làn sóng biểu tình quy mô lớn trên khắp Việt Nam và suýt đẩy hai nước đến bờ của một cuộc xung đột vũ trang, hai bên đã sử dụng khá hạn chế các đường dây nóng hiện có. Cần phải chờ xem đường dây nóng giữa hai bộ quốc phòng sẽ được sử dụng để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng như thế nào, nhưng rõ ràng Việt Nam đã cam kết sử dụng tất cả các công cụ ngoại giao có thể để tránh xảy ra một cuộc xung đột với Trung Quốc.

Với việc Việt Nam gần đây tiếp nhận hai tàu ngầm lớp Kilo tiên tiến do Nga chế tạo, nước này đã tăng cường khả năng răn đe tối thiểu của mình. Hà Nội cũng hoan nghênh quyết định của Washington nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí, điều này có thể giúp Việt Nam cải thiện năng lực chấp pháp dân sự của mình.

Do tính chất bành trướng của các yêu sách biển và các hoạt động tuần tra bán quân sự của Trung Quốc, Indonesia đã đẩy nhanh các nỗ lực chỉnh đốn lại chính sách biển của mình, đề xuất thành lập Cơ quan An ninh Biển (Bakamla), đồng thời tăng chi tiêu quốc phòng để đưa Indonesia trở thành “một cường quốc biển toàn cầu.” Indonesia, gần đây đã công khai chỉ trích học thuyết “đường chín đoạn” của Trung Quốc, bày tỏ quan ngại về những động thái của Bắc Kinh gần quần đảo Natuna giàu hiđrôcácbon.

Tóm lại, một điều rõ ràng là những đối thủ của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương đã thực hiện chiến thuật "đặt cược nhiều cửa" - phát triển nhanh chóng năng lực trên biển đồng thời khôn khéo duy trì các kênh ngoại giao quan trọng với giới lãnh đạo ở Bắc Kinh. Trong khi đó, Philippines dường như đã đặt hầu hết số trứng chiến lược mình có vào trong duy nhất chiếc giỏ pháp lý (không lấy gì làm chắc chắn).

Theo NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

24 thg 9, 2014

- Thứ Tư, tháng 9 24, 2014 -    No comments
Cái gọi là "Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch" tất cả đều không đáng nhắc đến, chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh. Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt, thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc.
Giải mã não trạng hẹp hòi của người Trung Quốc
Bài phỏng vấn học giả Trung Quốc Đô Duy Minh về sự trì trệ trong thói quen tư duy, nhận thức của dân tộc Trung Quốc.

A.  SÁNG TẠO RA TRIẾT HỌC BẰNG CÁCH GIẢI THÍCH TRUYỀN THỐNG

- Thưa Đỗ Duy Minh tiên sinh, ngài đã nhiều lần nhấn mạnh “sự hiểu biết đồng tình” (đồng tình liễu giải) đối với các nhà tiên triết cổ đại, do đó đã tiến hành giải thích truyền thống trên một quy mô lớn. Tuy nhiên tôi cảm thấy một trong những căn bệnh tệ hại của văn hóa Trung Quốc chính là do ý nguyện giải thích truyền thống quá mạnh mẽ, bất luận thời gian nào, không gian nào, bất luận phải đối diện với bất kỳ loại thách đố nào, cũng tìm một cách truy cầu đáp án về truyền thống, tìm mọi cách hấp thu sức mạnh từ truyền thống. Theo phong cách như vậy, hơn hai ngàn năm giới trí thức chỉ còn biết đứng trước một số kinh điển chắp tay sùng bái, đánh mất cả sức mạnh sáng tạo, đánh mất luôn cả khả năng thích ứng, cuối cùng tạo ra một thứ “tự mình chích thuốc vào bản thân“ (tự thể trúng độc), khiến cho toàn thể xã hội bị sa lầy, đình trệ giữa một thứ bệnh thái thâm trọng. Ngài giải thích ra sao về vấn đề này? 

- Tôi cho rằng sự kiện này có liên quan đến vấn đề ý thức lịch sử của người Trung Quốc, tức là nhân quả và cải cách. Từ đời Hạ đến đời Thương, từ Thương đến Chu, người đời sau đến với người đời trước luôn luôn có mối quan hệ nhân quả và cải cách, điều này có mối quan hệ rất mật thiết với tính kế thừa trong văn hóa Trung Quốc.  

Trước tiên ta cần phải phân biệt hai loại hình sáng tạo. Lọai hình sáng tạo thứ nhất mang tính đột phá. Tính chất này biểu hiện tương đối rõ ràng trong lĩnh vực khoa học. Khoa học phát triển, đôi khi có những đột phá các lý luận đi trước, có khi làm sụp đổ các quyền uy đi trước, sau đó một loại mô hình mới xuất hiện. Loại gãy đổ địa tầng ở bên trong nội bộ như vậy hết sức tự nhiên, mang ý nghĩa tiến bộ, nhảy vọt. Nhưng không hiếm người quan sát cho rằng sự đứt gãy địa tầng không hẳn nghiêm trọng như chúng ta tưởng.   

Còn có một loại hình sáng tạo thứ hai, chẳng hạn sáng tạo văn học, cho dù tác phẩm văn học có sáng tạo gì hết sức mới mẻ đi nữa, việc vận dụng ngôn ngữ cũng phải phù hợp với qui tắc hoặc văn pháp có sẵn, những qui tắc này không thể bị vi phạm. Anh chỉ có thể sử dụng ngôn ngữ không phù hợp với văn pháp sáng tạo ra những điều mới mẻ trong một phạm vi giới hạn tự giác. Điều này cũng giống như cuộc vận động cổ văn thời Bắc Tống, trong thời kỳ này đã xuất hiện một số văn hào như Âu Dương Tu, Tô Thức hay Hoàng Đình Kiên, tất cả đều sử dụng cổ văn thuần thục, thực sự đã đạt đến trình độ “bổ phong tróc ảnh“ (bắt gió đuổi ảnh) mà văn học bạch thoại hiện đại vẫn chưa sao với tới được. Do đó, sử dụng một cách cực kỳ thuần thục và linh hoạt ngôn ngữ mọi người vẫn thường vận dụng cũng là một hình thái sáng tạo ra cái mới. Loại hình sáng tạo này không giống như loại hình sáng tạo trong khoa học. Nó có tính kế thừa nhất định. 

Truyền thống Trung Quốc, nếu nói theo ngôn ngữ phương Tây, thông qua việc giải thích mà sáng tạo ra triết học, tức là sáng tạo theo quan điểm của thuyên thích học. Anh nhất định phải hấp thu dưỡng chất từ kinh điển truyền thống rồi mới có thể biểu hiện được quan điểm đặc sắc của riêng anh. Những quan điểm đặc sắc này cũng có thể giúp cho anh hoặc người khác đối với vấn đề vi ngôn đại nghĩa trong kinh điển tiến hành một sự xiển dương và phát huy tiến bộ được một bước. Đây là một loại hình tiến bộ tuần hoàn mà vòng tròn mỗi lúc mỗi được khoáng trương rộng rãi thêm ra. Truyền thống Trung Quốc là một truyền thống có ý thức lịch sử rất mạnh mẽ. Tôi không thể nào tiếp thu được quan điểm của một số người đối với văn hóa Trung Quốc cho rằng đây là nền văn hóa có định hướng sùng bái quá khứ không chịu nhìn về tương lai. Tôi cho rằng văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa “suy tần xuất tân“ (khai triển cái cũ, làm xuất hiện cái mới), từ trước đến nay vẫn có một sức sống vô cùng mãnh liệt. Nếu không văn hóa Trung Quốc không thể là nền văn hóa vừa trọng cổ vừa trọng kim được. Trên thế giới có nhiều nền văn hóa vô cổ hữu kim hay vô kim hữu cổ, nhưng nền văn hóa hữu cổ hữu kim thì tương đối hiếm. Nền văn hóa truyền thống có sức sống mãnh liệt giống như văn hóa Trung Hoa là một hiện tượng lịch sử độc nhất vô nhị. Truyền thống văn hóa Trung Quốc có tính kế thừa, đã biểu hiện được sức mạnh hưng thịnh của nó trong một thời gian dài. Nếu nói theo ngôn ngữ Kinh Dịch, đây là thành quả của việc “tự cường bất tức “ (tự mình tiến bộ nỗ lực không ngơi nghỉ), không thể giản đơn cho rằng văn hoá Trung Quốc là một hiện tượng “tự thể trúng độc“.  

Có nhiều người cho rằng sức sống trong văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là sức mạnh sáng tạo trong lĩnh vực triết học, đã đạt đến đỉnh cao trong thời kỳ Tiên Tần, sau đó dần dần suy thoái, cho dù ngay trong thời kỳ tương đối sung mãn cũng không thể so sánh với thời Tiên Tần. Quan điểm này tôi không thể tán thành. Tôi cho rằng văn hóa Trung Quốc có nguồn gốc thâm viễn, dòng chảy mạnh mẽ đi rất xa (nguyên viễn lưu trường, ba lan tráng khoát), có khí phách kiêm dung rất lớn, mỗi thời đại đều có cống hiến đặc biệt mang sắc thái tinh tế hiển minh. Khi bàn đến lịch sử tư tưởng Trung Quốc, chắc chắn cần phải quan tâm đến những giai đoạn quan trọng, mỗi giai đoạn đều có nội dung nghiên cứu phi thường, cần phải xuất phát từ nhiều giác độ khác nhau để lý giải các nội dung này. 

Ngoài ra vẫn còn một vấn đề nữa. Trước đây chúng ta vẫn xem văn hóa Trung Quốc là khởi nguyên từ một nguồn gốc duy nhất (nhất căn nhi phát), khởi thủy từ lưu vực sông Vị thuộc hạ lưu sông Hoàng Hà, dần dần phát triển rộng ra. Tôi cho rằng hiện nay rất ít người tiếp thu được quan điểm này. Văn hóa Trung Quốc thực ra bắt nguồn từ nhiều nguồn gốc khác nhau, có văn hóa Trung Nguyên, văn hóa Tây Bắc, văn hóa Ngô Việt ở Trường Giang, văn hóa Quảng Đông và Vân Nam. Văn hóa Trung Nguyên có bình diện phát triển tương đối rộng rãi, bao gồm văn hóa Tề, Lỗ, văn hóa Yên, Triệu, có nhiều hình thức và chủng loại khác nhau, giữa các nền văn hóa này có sự tác động qua lại (hỗ tương kích đãng) hòa hợp với nhau, dần dần phát triển thành một nền văn hóa tương đối thống nhất. Có thể nói văn hóa Trung Quốc mỗi thời đại đều có sức sống riêng biệt, đều có sự phát triển đặc thù, đều có sự sáng tạo riêng biệt. Từ trước thời Thương, Chu, cho đến Bách gia thời Tiên Tần, phái Kinh học và Sử học đời Lưỡng Hán, Huyền học đời Ngụy Tấn, Phật giáo Tùy Đường, Lý học đời Tống Nguyên, Khảo chứng học đời Thanh cho đến các học thuyết phát sinh sau thời nha phiến chiến tranh nhằm thích ứng với phương tây, cho đến thời hiện đại, mỗi một thời kỳ đều có vấn đề đặc biệt rất đáng được nghiên cứu thảo luận. Chúng ta không thể sử dụng mô thức hiểu biết về thời Tiên Tần để giải thích thời Lưỡng Hán, cũng không thể dùng mô thức thời Lưỡng Hán để hiểu thời Ngụy Tấn, không thể dùng mô thức hiểu biết thời Ngụy Tấn để hiểu thời Tùy Đường. Bất kể từ phương diện văn hóa chính trị hay phương diện cấu trúc văn hóa đều không thể hiểu Trung Quốc, một quốc gia có nội dung văn hóa học thuật vô cùng phong phú, một cách đơn giản, thiển cận như vậy được. 

B. SỰ HÌNH THÀNH Ý THỨC DUY NGÃ ĐỘC TÔN TRONG VĂN HÓA TRUNG QUỐC 

- Khi mọi người bàn đến tính bảo thủ cố hữu trong bản thân văn hóa Trung Quốc, thông thường vẫn nên lên vấn đề “duy ngã độc tôn“ (chỉ có ta là đáng tôn trọng). Như vậy cũng có thể nói, từ cổ chí kim, văn hóa Trung Quốc đều có ý thức duy ngã độc tôn, một loại khuynh hướng mục hạ vô nhân (mục không nhất thiết), khuynh hướng này không những đả kích các luồng văn hóa đến từ nước ngoài, mà còn làm gia tăng thêm nọa tính của văn hóa Trung Quốc nữa. Ngài nghĩ sao về vấn đề này? 

- Vấn đề này Phí Chí Thanh cũng đã bàn đến rồi. Có quan điểm như sau: do Trung Quốc là một nước lớn có cái gọi là “lễ nghi thiên triều“, có ý thức duy ngã độc tôn, xem những ngoại nhân đều là những dân tộc phải đến triều cống, vì họ có những điều cần phải cầu xin chúng ta, còn chúng ta thì chẳng cần cầu xin gì ở họ. Một khi họ đã đến Trung Quốc thì chúng ta phải dùng một loạt những chế độ lễ nghi để cải biến họ thành những phần tử có nhiệm vụ kính bái thiên triều. Từ đời Đường trở đi tình hình đều như thế cả, cho đến đời Minh thì phát triển thành một loại ngông cuồng tự đại tương đối rõ ràng, loại ngông cuồng tự đại này khiến cho Trung Quốc khó lòng đối phó với sự thách đố của văn hóa Tây phương một cách thực tế, một cách rốt ráo được. Cái gọi là “ Nam  Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch “tất cả đều không đáng nhắc đến, chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh. Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt, thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc. 

Tôi cho rằng đối với những trạng huống nêu trên, tất yếu cần phải tiến hành phân biệt ở những tầng lớp sâu hơn. Không thể phủ nhận rằng Trung Quốc quả thật có một loại tư tưởng văn hóa xem mình là trung tâm, nhưng đàng sau bối cảnh rộng lớn này thì tình hình cụ thể rất phức tạp. Đời Đường, văn hóa Trung Quốc phát triển đến đỉnh cao, nhưng đời Đường không có chủ nghĩa xem văn hóa Hoa Hạ làm trung tâm, mà lại có tinh thần bao dung, tổng hợp rất lớn. Sau đời Đường, Hán tộc tại Trung Quốc không những rơi vào cảnh quốc gia bại nhược mà phải còn chịu sự uy hiếp đặc biệt lớn của các dân tộc thảo nguyên (như Mông Cổ), dân tộc Sâm Lâm (như Kim), do đó quan điểm văn hóa trung tâm của Trung Quốc và kinh nghiệm về sinh tử tồn vong mà nó phải gánh chịu có tương quan mật thiết. Đặc biệt trong thời gian gần một ngàn năm lịch sử, quan niệm duy ngã độc tôn rất khó có sức thuyết phục. Đời Tống đối với Liêu, Kim, Nguyên nhiều lần đã phải cam chịu xưng “thần”. Chu Hi, một nhà tư tưởng có ý thức văn hóa Hoa Hạ rất mạnh mẽ, nhưng vẫn có những cảm giác lo lắng, sợ hãi sâu sắc, ông lo sợ rằng động lực của trung tâm thế giới không còn phạm vi Trung Quốc nữa, không những thế Trung Quốc đã bị ngoại nhân xâm lược và phải đối diện với cái họa vong quốc. Đến đời Nguyên, tròn tám mươi năm, hoàn toàn chịu sự can thiệp quấy nhiễu của văn hóa dị tộc, thành phần trí thức bị biến thành một thứ “xú lão cửu” (lão già hủ lậu hôi thối). Cho đến đời Minh, tình hình phòng vệ biên cương luôn luôn phức tạp, căng thẳng, một mặt phải lo Mông Cổ, vì Mông Cổ có khả năng hứng khởi trở lại, một mặt khác phải lo đối phó Mãn Châu. Tình cảnh biến hóa thịnh suy khôn lường, ngay cả hoàng đế cũng bị bắt giữ, trong tình huống như thế, muốn có ý thức ngông cuồng tự đại cũng không phải là việc dễ dàng. Cảm giác về mối nguy cơ rất mạnh mẽ thể hiện trong tác phẩm của Vương Phu Chi và khẩu hiệu do Cố Viêm Võ đề xuất: ”thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách“ (chuyện quốc gia còn hay mất, ngay kẻ thất phu cũng có phần trách nhiệm) tất cả cho thấy không phải đây là ý thức duy ngã độc tôn, tự ngã trung tâm, mà nên nói rằng đó là ý thức lo âu về sự tồn vong của dân tộc.    

Cái gọi là ý thức duy ngã độc tôn, chủ yếu hình thành vào đời nhà Thanh, Mãn Thanh là một vương triều do kẻ xâm lăng vào Trung Quốc kiến lập nên. Với mục đích hoàn thành việc khống chế các vấn đề nội bộ, chính phủ nhà Thanh thái dụng sách lược văn hóa hoàn toàn giống với sách lược của Nho gia, Tôn Khổng độc Kinh (tôn sùng Khổng Tử, nghiên cứu kinh điển Nho gia), đó là những điều chính quyền nhà Minh không làm được thì nhà Thanh đã làm được. Có thể nói vương triều nhà Thanh đã hoàn toàn giải trừ được vũ trang của các phần tử Trung Quốc, khả năng phán đoán của giới trí thức đối với một số vấn đề lớn cũng bị chính trị làm cho rối loạn. Đồng thời, giới trí thức, đặc biệt là giới trí thức Hán tộc, khi không còn khả năng tề gia trị quốc họ có cảm giác mình bị phân ly với thời đại, không còn thuộc về thời đại này nữa. Cho nên cái gọi là bệnh ngông cuồng tự đại của thiên triều vẫn chưa phát triển đầy đủ sau đời Tống, và ý thức duy ngã độc tôn của đời Thanh cũng là do thời gian cả trăm năm không tiếp xúc với ngoại bang, đối với văn hoá Tây phương hoàn toàn chẳng hiểu biết gì về hoàn cảnh khó khăn do chính bản thân tạo ra.   

-  Nhưng mà chúng ta e rằng rất khó mà dùng hoàn cảnh suy bại của quốc gia để phủ nhận sự tồn tại của ý thức duy ngã độc tôn, vào thời Hán Vũ Đế, Đổng Trọng Thư  yêu cầu “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật“, điều này đúng là một khẩu hiệu bài trừ các loại tư tưởng khác biệt với mình về phương diện học thuật hay phương diện văn hóa. Sau khi cái gọi Nho thuật của Đổng Trọng Thư trở thành văn hóa chính thống của Trung Quốc, tinh thần bãi truất và độc tôn e rằng đã trở thành tính cách đặc thù của văn hóa Trung Quốc. Ngay cả khi đất nước lâm vào cảnh suy vi, cũng rất dễ dàng kích phát những tình cảm “độc tôn“ tiến lên một bước, vì những người yếu đuối với vấn đề tự tôn đôi khi cũng có mặc cảm, không những thế mặc cảm này đôi khi còn trở nên quá thái nữa. E rằng đây là hiện tượng “mặc cảm tự ti biến thành mặc cảm tự tôn“ (cảm tình đích hồi lưu) chăng? 

- Về vấn đề “duy ngã độc tôn“, tôi cho rằng có thể lý giải từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất, Nho học đảm nhiệm chức năng hình thái của loại quốc giáo, phân tích cho cùng đã duy trì được tại Trung Quốc trong một thời gian rất dài, có ảnh hưởng rất lớn. Góc độ thứ hai, Nho học tại Trung Quốc, ngoài việc đóng vai trò một hình thái ý thức chính thống, đối với xã hội Trung Quốc, đặc biệt đối với nhiều tầng lớp dân chúng, thông qua rất nhiều con đường khác nhau mà phát sinh ảnh hưởng rất lớn. Tôi cho rằng chúng ta đã cường điệu quá đáng ảnh hưởng của Nho học chính thống thuộc phạm vi nhà nước. Tuy vấn đề đời Hán xuống chiếu ban hành “độc tôn Nho thuật” là có thật, nhưng Hán Vũ Đế không phải là người chấp nhận tư tưởng Nho học, ông ta hoàn toàn giống như Tần Thủy Hoàng, rất thích lập nên những chiến công hiển hách, bị bọn phương sĩ mê hoặc, hơn nữa còn có tư tưởng pháp gia rất mạnh, ví dụ như việc ông sử dụng Tang Hoàng Dương là một thắng lợi của phái Pháp gia, điều này có phản ánh trong tác phẩm Diêm thiết luận.   

Hơn nữa, Ngụy, Tấn, Tùy, Đường đều không phải là các triều đại tôn sùng Nho học, mãi cho đến đời Nguyên, Tứ Thư, Ngũ Kinh mới trở thành tiêu chuẩn cho chế độ khoa cử. Tôi không phủ nhận ảnh hưởng rất lớn của Nho gia trong văn hóa chính trị Trung Quốc, đóng vai trò như một nguyên tắc chuẩn mực trong việc trị nước, nhưng phân tích rốt ráo vẫn còn có sự thẩm thấu trong đó nhiều nhân tố thuộc tư tưởng Pháp gia. Tôi chỉ muốn cảnh giác với quan điểm của nhiều người: Nho giáo sở dĩ có thể thâm nhập đến mọi phương diện trong đời sống xã hội, mọi tầng lớp nhân dân, hoàn toàn không phải là nguyên nhân chính trị, mà còn do rất nhiều nhân tố khác. Chúng ta có thể nhớ lại, Nho gia trong đời Hán mặc dù có địa vị rất cao, nhưng đối với lý thuyết Hoàng Lão đang thịnh hành trong xã hội cũng không thể tùy tiện phê phán. Ngụy Tấn có thể nói là thời kỳ mà Nho gia dần dần nắm được địa vị, đương thời trong thị tông tộc, giải cứu gia pháp, làm cho Nho học, đặc biệt là Kinh học và Lễ học phát triển trong cấu trúc kiến lập xã hội. Nhưng rất khó giải thích điều này từ góc độ chính trị hóa. Do việc Trung Quốc bị ngoại tộc xâm nhập, một số lớn gia tộc chạy về phương nam, và do ý muốn duy trì địa vị gia tộc, tất yếu cần phải có một số qui phạm, lý tưởng. Đến thời nhà Đường, Kinh học và Lễ học của Nho gia càng được phát triển rộng rãi (đại hào kỳ đạo). Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, từ thời Ngụy Tấn cho đến đời Đường, tư tưởng chủ đạo vẫn là Phật giáo và Huyền học, nếu xét trên bình diện hệ tư tưởng, mãi cho đến đời Tống, Nho gia mới được trùng tân phục khởi, các học thuyết thân, tâm, tính, mệnh mới được mọi người đề xuất, đối với Phật giáo trở thành đối ứng mang tính sáng tạo mạnh mẽ. Do đó, khi xem xét vấn đề Nho giáo, không thể nào chỉ căn cứ vào góc độ “độc tôn Nho thuật“ hay “nhất chi độc tú“ (chỉ có một cành xinh đẹp) để giải thích, mà xem xét những đường kinh mạch của Nho giáo thẩm thấu trong khắp mọi tầng lớp xã hội. Từ đời Hán đến nay, bất kể là triều đại nào, nếu muốn tiến hành kiến lập các cấu trúc chính trị đều cần đến vai trò của Nho gia. Điều này đóng vai trò hữu quan trong văn hóa chính trị cùng với Nho gia, phản ánh một cách mạnh mẽ rõ ràng ý thức lịch sử và tinh thần cảm thụ văn hóa  đặc biệt của người Trung Quốc. Không biết điều này có làm tăng trưởng ý thức duy ngã độc tôn hay bệnh ngông cuồng tự đại của người Trung Quốc hay không? Tôi cho rằng trong vấn đề này có nhiều hoàn cảnh cụ thể mà chúng ta hoàn toàn chưa nắm rõ. Đời Thanh quả thực chúng ta đã biết như thế, nhưng nhất định phải có những nguyên nhân và duyên cớ sâu xa bắt nguồn từ các thời đại đi trước.

Theo Tập san Khoa học Xã hội và Nhân văn

9 thg 8, 2014

- Thứ Bảy, tháng 8 09, 2014 - ,    No comments
“Sáng tạo” đang là từ khoá “thời thượng” nhất hiện nay trong cộng đồng doanh nghiệp trẻ Việt Nam. Rất nhiều công ty Việt Nam đang đầu tư tiền của vào bộ phận R&D, nhưng con đường sáng tạo nào phù hợp với thị trường, con người và tiềm năng của nước ta?
Sáng tạo kiểu Tàu hay Israel?
Sáng tạo kiểu Trung Quốc

Người có ảnh hưởng lớn nhất đến ngành công nghiệp ôtô Mỹ, Henry Ford đã từng nói: “Nếu hỏi người tiêu dùng, họ sẽ chỉ muốn một con ngựa chạy nhanh hơn mà thôi!” Ngụ ý của Henry Ford là nếu dựa vào nhu cầu của người dân, chẳng bao giờ các công ty Mỹ đưa ra được sản phẩm đột phá. Đó lá cách tư duy của người Mỹ: dẫn đầu xu hướng, tạo ra sản phẩm hoàn toàn mới, ví dụ như Microsoft, Apple, Ford, Google, Facebook… Vậy người Trung Quốc, với tham vọng soán ngôi người Mỹ đang sáng tạo kiểu gì? Jack Ma, ông chủ của tập đoàn thương mại điện tử Alibaba lớn nhất thế giới, cho rằng: “Trung Quốc là nước đi sau, chúng tôi tốt nhất sáng tạo kiểu “vi mô” (micro-innovation)”. Alibaba, Tencent, và Baidu đều là những ví dụ của cách tư duy này. Tencent với phần mềm tin nhắn WeChat nhái lại Viber và WhatsApp đang đứng đầu toàn thế giới về số người dùng, gần 400 triệu người dùng, vượt gấp đôi WhatsApp và gấp ba lần Viber. Hiện tại, họ đang chuẩn bị mua lại Dianping.com, một sản phẩm bắt chước Yelp, trang web mạng xã hội về du lịch của Mỹ. Số lượng người dùng hàng tháng của Dianping.com là 130 triệu, tăng 186% so với năm ngoái. Theo Bloomberg, Dianping.com đang chuẩn bị IPO tại Mỹ với giá trị khoảng 1 tỉ USD. Baidu, “Google của Trung Quốc”, là công ty Trung Quốc đầu tiên lọt vào top 100 của NASDAQ, và giành hơn 70% thị trường tìm kiếm trực tuyến tại quốc gia tỉ dân này. Họ cũng giành hạng 5 toàn cầu trong bảng thống kê các trang web được truy cập nhiều nhất của Alexa vào tháng 5, 2014 vừa qua, chứng tỏ một vị thế vững chắc. Alibaba, “người khổng lồ đầu tiên của Trung Quốc”, là công ty ăn theo eBay của Mỹ. Với giao diện, cách thức giao dịch ban đầu, ý tưởng giống eBay một cách khó hiểu, Alibaba từng vấp phải nhiều lời chỉ trích của thế giới phương Tây. Nhưng hiện nay, họ là công ty thương mại điện tử lớn nhất thế giới, với tổng giá trị giao dịch lớn bằng eBay và Amazon.com gộp lại. Quá trình IPO của Alibaba cũng là một trong những thương vụ được mong chờ nhất thế giới, với giá trị ước tính hơn 100 tỉ USD.

Điều quan trọng nhất để các công ty Trung Quốc thành công chính là điều kiện kinh tế xã hội của cường quốc này quá thuận lợi: 1,3 tỉ dân, thu nhập bình quân đầu người đang tăng, sự hỗ trợ, bảo bọc của chính phủ… Chỉ cần chiếm 10% thị phần, các công ty đã có 130 triệu người dùng, con số mơ ước của các công ty Mỹ.

Và sáng tạo kiểu Israel

Israel, một quốc gia nhỏ xíu, ít tài nguyên, nhiều kẻ thù và bị bao vây bởi nhiều áp lực hơn, lại sáng tạo kiểu khác. Công ty tư vấn Sáng tạo – Systematic Innovative Thinking (SIT) của Israel sau hàng thập kỷ nghiên cứu và thay đổi cho phù hợp với môi trường đầy rủi ro của nước mình đã đưa ra một khái niệm mới: Sáng tạo từ những tài nguyên sẵn có. SIT cho rằng chính những rào cản mới thúc đẩy sức sáng tạo. Sáng tạo đã được Israel biến thành một nét văn hoá của quốc gia: họ đầu tư cho R&D nhiều nhất thế giới, 4,4% chi tiêu quốc gia, so với 2,5% của Mỹ. Năm 2013, tại New York chỉ có 60 dự án khởi nghiệp của Israel đến lập văn phòng để tìm kiếm đầu tư, thì nay con số đó đã là hơn 200.

Qua nhiều năm nghiên cứu các sản phẩm có sẵn trên thị trường, SIT đưa ra hai nguyên tắc chính: “Thế giới đóng”, và “Thứ tự tư duy: hình thái trước, chức năng sau”. “Thế giới đóng” có nghĩa, chúng ta không tự nhiên tạo ra sản phẩm mới, mà trước hết nên dùng các tài nguyên có sẵn quanh ta để thay đổi sản phẩm đang có. Nguyên tắc “Hình thái trước, chức năng sau” thì lại đề nghị các doanh nghiệp cứ thay đổi hình dạng trước, rồi hãy xác định công dụng mới cho sản phẩm. SIT đưa ra một số công cụ để thực hiện các nguyên tắc này, chủ yếu là thay đổi và sắp xếp thứ tự các thành phần cấu tạo nên sản phẩm. Các nguyên tắc này rất phù hợp với tình huống của người Israel. Dân tộc Israel bị hạn chế rất nhiều về tài nguyên thiên nhiên (chỉ có gần 8 triệu dân và đất đai thì hơn 50% diện tích là sa mạc), lịch sử phải trải qua nhiều cuộc chiến tranh tàn phá. Chính vì thế, người Israel tính toán mọi thứ rất kỹ lưỡng để hạn chế tối đa việc lãng phí, sản phẩm làm ra phải đáp ứng trực tiếp nhu cầu của người dùng để thành công nhanh, tránh rủi ro thay đổi tình hình chính trị xã hội. Hai thập kỷ nghiên cứu của SIT bao gồm việc phân tích rất nhiều sản phẩm nổi tiếng, so sánh chúng với đối thủ cạnh tranh, phân tích vì sao lại có kẻ thành công và thất bại, đồng thời tìm ra các hướng giải quyết phù hợp nhất với các công ty vừa và nhỏ, hoặc cho các dự án bị hạn chế về nguồn lực. Tính tới năm 2013, Israel đã có hơn 4.800 dự án khởi nghiệp với 70% trong đó đầu tư về công nghệ. Nhiều ví dụ cho các công cụ và nguyên tắc SIT đang hiện hữu quanh ta và rất phổ biến như: máy ATM (các nhà băng lược giản vai trò của nhân viên ngân hàng, tạo ra một chiếc máy có cùng chức năng, gọn nhẹ và tiết kiệm), hay máy tính bảng (các công ty tối giản và thay đổi cấu trúc của một chiếc máy tính để bàn cùng điện thoại di động để tạo ra một sản phẩm cầm tay mới mẻ và hữu dụng). Với việc một nửa diện tích là sa mạc, Israel, qua các công cụ này, đã tìm cách nuôi cá và trồng trọt ngay trong sa mạc với hệ thống tưới tiêu nhỏ giọt và cảm ứng nhiệt để đảm bảo lượng nước tưới và hạn chế lãng phí. Hệ thống này đã giúp Israel tiết kiệm hàng trăm triệu USD mỗi năm và đưa nước này trở thành nhà cung cấp hoa màu lớn cho châu Âu; Hà Lan cũng đang phải mua hoa của Israel. Gần đây nhất, mạng xã hội của Israel dành cho dân lái xe hơi Waze – chia sẻ thông tin kẹt xe, các quán ăn, các địa điểm nghỉ chân… đã được Google mua lại với giá 1,3 tỉ USD.

Người Israel và Mỹ khi muốn thay đổi sản phẩm đều phải tự trả lời hàng trăm câu hỏi về tính khả thi, khả dụng và lợi ích dành cho công ty, khách hàng và người tiêu dùng. Để tiết kiệm và hạn chế rủi ro, doanh nghiệp Việt Nam có thể thử cách làm của người Israel, hãy chọn ra một sản phẩm chủ chốt, liệt kê các thành tố của nó, thay đổi thứ tự sắp xếp hay số lượng thành tố, tạo ra sản phẩm mới và xác định công năng mới, các lợi ích. Thực dụng và hiệu quả như người Israel, hãy bắt đầu sáng tạo với những tài nguyên có sẵn quanh ta.

Theo THẾ GIỚI TIẾP THỊ

17 thg 3, 2014

- Thứ Hai, tháng 3 17, 2014 -    No comments
Tại Việt Nam, thương lái Trung Quốc thu mua hàng loạt nông sản giá cao với động cơ không rõ ràng sau đó "bỏ bom".

Trong khi đó, theo quan sát và nghiên cứu của TS Trương Duy Hòa, TS Nguyễn Thành Văn, TS Nguyễn Hồng Quang (Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) đều khẳng định những tình huống này không có ở các nước Lào, Campuchia, Myanmar, Thái Lan.
Vì sao thương lái Trung Quốc chỉ lừa người Việt Nam?
"Tôi chưa nghe thấy trường hợp này ở Campuchia" - TS Nguyễn Thành Văn, trưởng phòng nghiên cứu Campuchia khẳng định.

Còn TS Trương Duy Hòa, trưởng phòng nghiên cứu Lào nói: "Ở Lào không có tình trạng thương lái Trung Quốc ồ ạt thu mua các loại nông sản như ở Việt Nam. Theo tôi, thương lái Trung Quốc sang đây mua nông sản của Việt Nam đều mang động cơ tiêu cực, và chỉ hướng vào Việt Nam".

Theo TS Nguyễn Hồng Quang, trưởng phòng nghiên cứu Thái Lan - Myanmar, tại Thái Lan cũng không diễn ra tình trạng như Việt Nam.

TS Nguyễn Hồng Quang lý giải, do Thái Lan có chính sách về nông nghiệp rất rõ ràng, chặt chẽ, họ đến từng thôn, xã giao từng sản phẩm, định hướng rõ từng sản phẩm, không có tình trạng sản xuất ồ ạt như ở Việt Nam và cũng không có chuyện người nước ngoài vào kinh doanh một cách dễ dàng như ở Việt Nam.

"Tôi không hiểu vì sao Việt Nam lại để thương lái vào và làm những việc như vậy? Tại sao để họ vào tận khu vực thu mua, không có chính ngạch, hay hợp đồng ký kết?", TS Nguyễn Hồng Quang đặt câu hỏi.

Trước thực trạng thương lái Trung Quốc ồ ạt thu mua nông sản Việt Nam như cây khoai lang, cây culi và mầm thảo quả... với động cơ không rõ ràng, Bộ Công thương đã liên hệ với các sở Công thương và các sở chức năng tại các địa phương, chi cục Quản lý thị trường và cán bộ các Sở công thương đã trao đổi trực tiếp với nông dân các vùng miền.

Theo đó, yêu cầu việc mua đi bán lại với các thương lái phải có địa chỉ rõ ràng, có hợp đồng mua bán khi diễn ra việc mua nông sản, nhiều trường hợp khi được yêu cầu có đủ các điều kiện này, đã "lặn mất tăm".

Còn nhớ, với cách thức thu mua ồ ạt, giá cao Trung Quốc đã mua các loại lá sắn, đỉa, lá điều, ớt, thanh long, dưa hấu... khiến không ít người hám lợi trước mắt đã tham gia vào chuỗi này rồi sau đó không ít tiểu thương điêu đứng vì bị thương lái Trung Quốc "bỏ bom" vì nhập hàng nhiều nhưng thương lái Trung Quốc không quay lại lấy.

Hậu quả là lá điều chất thành núi, đỉa nhiều nơi tiểu thương đã thả lại đồng ruộng, lá khoai lang bị nông dân cắt bỏ sớm, trước khi thu hoạch làm năng suất cây giảm 50%.

Thanh long từng được thu mua với giá cao sau đó ngừng thu mua khiến hàng trăm xe thanh long xuất khẩu bị ứ lại tại cửa khẩu Tân Thanh không thể tiêu thụ. Tại Ninh Thuận, Tiền Giang thương lái Trung Quốc thường xuyên điện thoại đặt mua với giá cao nhưng khi giao hàng luôn chê bai, dìm giá, ép giảm 30-40%.

Với dưa hấu, Trung Quốc cũng từng đột ngột ngừng thu mua khiến giá dưa tại đồng bằng sông Cửu Long giảm mạnh từ 8.000 đồng xuống còn chỉ còn 1.300-2.000 đồng/kg nhưng cũng không ai mua.